TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày 24/5/2024
V/v Tranh chấp kinh doanh thương mại,
hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và ông Nguyễn Quốc Dũng.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 08/2023/TLST-DS ngày 20/12/2023 về việc “Tranh chấp kinh doanh thương mại, hợp đồng tín dụng” theo 52/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-KDTM ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (viết tắt Ngân hàng).
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP X.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Văn A – Chức vụ: Giám đốc E chi nhánh A1.
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Huỳnh Quang M, sinh năm 1987 – Chức vụ: Giám đốc phụ trách P2; địa chỉ liên hệ: Số A đường T, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị đơn:
- Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1; địa chỉ: tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Có ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/7/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần X, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông Huỳnh Quang M trình bày:
Ngày 19/8/2022, Ngân hàng TMCP X – Phòng G có ký kết với Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 hợp đồng tín dụng số LAV220073184/1507 ngày 19/8/2022 cho vay số tiền 1.950.000.000 đồng (một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Đến ngày 22/8/2022, Ngân hàng TMCP X – Phòng G giải ngân và Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 đã nhận nợ theo Khế ước nhận nợ số 1507-LDS-220001243 ngày 22/8/2022, số tiền 1.950.000.000 đồng (một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng).
- Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh nông sản
- Thời hạn vay: 11 tháng kể từ ngày 22/8/2022 đến ngày 22/7/2023
- Lãi suất: 10%/năm (lãi suất cố định), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi phạt chậm trả 10%/năm/số tiền lãi chậm trả.
Ngày 19/8/2022, Ngân hàng TMCP X – Phòng G có phát hành Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG (tài khoản thanh toán thẻ 150710501001001) cho ông Huỳnh Bá P1. Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng theo Hợp đồng thẻ tín dụng số LAV220080249/1507 ngày 19/8/2022, lãi suất thỏa thuận theo biểu phí phát hành và sử dụng thẻ áp dụng cho tất cả các đối tượng khách hàng (hiệu lực ngày 01/7/2022).
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của các hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng TMCP X – Phòng G và ông Huỳnh Bá P1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 270/2022/EIBAG-TD/TCTS.TC ngày 19/8/2022 được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ - Chi Nhánh T2, tỉnh An Giang ngày 19/8/2022.
Tài sản bảo đảm của Hợp đồng thế chấp trên là: Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001”.
Kể từ khi vay ông P1 không trả vốn gốc cho Ngân hàng đối với khoản vay 1.950.000.000 đồng nhưng ông P1 đã trả lãi cho Ngân hàng đến ngày 10/7/2023, với số tiền 156.521.026 đồng và ngưng cho đến nay; đối với Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG, tính đến ngày 10/7/2023 ông P1 nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc 47.205.261 và lãi 6.478.238 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Huỳnh Bá P1 thanh toán nợ, tuy nhiên đến nay ông Huỳnh Bá P1 vẫn chưa thực hiện.
Tạm tính đến ngày 24/5/2024, Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 còn nợ Ngân hàng số tiền 2.225.964.592 đồng (gốc: 1.950.000.000 đồng, lãi: 275.964.592 đồng, gồm lãi trong hạn: 27.259.796 đồng, lãi quá hạn: 246.872.898 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.831.898 đồng).
- Ông Huỳnh Bá P1 nợ Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG (tài khoản thanh toán thẻ 150710501001001) số tiền 83.671.506 đồng (gốc: 47.205.261 đồng, lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng.
Do Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 vi phạm hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng yêu cầu:
Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 24/5/2024 là: 2.225.964.592 đồng (gốc: 1.950.000.000 đồng, lãi: 275.964.592 đồng, gồm lãi trong hạn: 27.259.796 đồng, lãi quá hạn: 246.872.898 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.831.898 đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực.
Ông Huỳnh Bá P1 trả nợ Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG với số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 83.671.506 đồng (gốc: 47.205.261 đồng, lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng.
Và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/5/2024 cho đến khi Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 thanh toán xong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đã ký kết với Ngân hàng.
Trường hợp chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001” để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
Kèm theo đơn khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp các tài liệu và chứng cứ đã nêu tại biên bản phiên họp về kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 19/3/2023 (BL 122 - 123).
Những tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án đã thu thập:
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp ngày 27/02/2024 thể hiện: Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001” có một hàng rào lưới B40 dựng trên nền xi măng, có phần rào bằng sắt mũi giáo ngang 2m x cao 1,8m = 3,6m²; có một cây dừa và một cây táo cho ra trái ổn định còn lại là cây tạp; Vị trí đất tiếp giáp đường tỉnh lộ 952 (hướng nam), hướng bắc tiếp giáp tuyến dân cư lô 19, phía đông tiếp giáp Cao Thành Q, phía tây tiếp giáp Nguyễn Thị Kim N.
Biên bản xác minh ngày 05/3/2024 tại Công an phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp: Đương sự Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984 có đăng ký cư trú tại tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nhưng tại thời điểm xác minh vắng mặt tại địa phương.
Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 52D8007581 của hộ kinh doanh ông Huỳnh Bá P1 tại Phòng Tài chính kế hoạch.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các loại văn bản đúng quy định nhưng chị L và anh T1 không đến Tòa án làm việc nên không lấy được lời khai và cũng không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết đúng quy định Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà L và ông T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét sử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn phù hợp tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, Hợp đồng hạn mức tín dụng và Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP X giữa chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vốn và lãi đến hạn theo hợp đồng đã ký kết nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền nợ vốn, lãi và duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ như trên là có căn cứ.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X:
Buộc Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 24/5/2024 là: 2.225.964.592 đồng (gốc: 1.950.000.000 đồng, lãi: 275.964.592 đồng, gồm lãi trong hạn: 27.259.796 đồng, lãi quá hạn: 246.872.898 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.831.898 đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực.
Ông Huỳnh Bá P1 trả nợ Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG với số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 83.671.506 đồng (gốc: 47.205.261 đồng, lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng.
Và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/5/2024 cho đến khi Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 thanh toán xong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đã ký kết với Ngân hàng.
Trường hợp chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001” để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
Đương sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng hạn mức tín dụng giữa Ngân hàng TMCP X với bị đơn ký kết ngày 19/8/2022, thời hạn vay 11 tháng, ngày giải ngân 22/8/2022, ngày đến hạn 22/7/2023 và Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG mở ngày 19/8/2022. Ngày 27/7/2023, Ngân hàng khởi kiện do chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ là còn thời hiệu quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có khởi kiện tranh chấp hợp đồng hạn mức tín dụng với bị đơn là chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1, cùng cư trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Tranh chấp này được Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
[3] Về tư cách tố tụng: Theo hợp đồng tín dụng số LAV220073184/1507 ngày 19/8/2022 và Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG ngày 19/8/2022, việc ký kết các hợp đồng được thực hiện giữa Ngân hàng với chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1. Quá trình thực hiện hợp đồng chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1 vi phạm nghĩa vụ các hợp đồng. Ngân hàng khởi kiện ông P1 thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hạn mức tín dụng và duy trì Hợp đồng thế chấp giữa ông P1 với Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng tham gia với tư cách là nguyên đơn; chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và cá nhân ông Huỳnh Bá P1 tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn là phù hợp theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về việc vắng mặt đượng sự: Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1 đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
*Về nội dung:
[1] Hợp đồng hạn mức tín dụng: Trên cơ sở, Hợp đồng tín dụng số LAV220073184/1507 ngày 19/8/2022 và Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG ngày 19/8/2022, những người tham gia ký kết đều có năng lực hành vi dân sự, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng được lập thành văn bản đúng theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
[2] Hợp đồng tín dụng số LAV220073184/1507 ngày 19/8/2022
Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 số 1.950.000.000 đồng như cam kết, chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 đã nhận đủ tiền vay; trong quá trình thực hiện hợp đồng chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 chưa thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc theo hợp đồng; Ngân hàng yêu cầu chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 1.950.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, đây cũng là quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Xét, chấp nhận.
Trong hợp đồng tín dụng số LAV220073184/1507 ngày 19/8/2022 Ngân hàng với chủ hộ Kinh doanh Huỳnh Bá P1 đã có thỏa thuận về mức lãi suất, cách tính lãi, ngày thanh toán tiền lãi và trường hợp chuyển nợ quá hạn. Cụ thể: lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% (gấp 1,5 lần) lãi suất cho trong hạn tại thời điểm nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này” và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận mức lãi suất, cách tính lãi suất nêu trên do Ngân hàng và chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 tự thỏa thuận đã được thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và sự thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp theo quy định tại Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy việc nguyên đơn yêu cầu chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 phải thanh toán toàn bộ số nợ lãi 275.964.592 (hai trăm bảy mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi hai) đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 27.259.769 (hai mươi bảy triệu hai trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi chín) đồng, lãi quá hạn 246.872.898 (hai trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm chín mươi tám) đồng, lãi phạt chậm trả 1.831.898 (một triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi tám) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hạn mức tín dụng từ ngày 24/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay (có bảng kê chi tiết tính lãi của Ngân hàng đối với khoản nợ của chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1). Xét, chấp nhận.
[3] Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG ngày 19/8/2022
Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng cấp cho ông Huỳnh Bá P1 Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG, với hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng, tính đến ngày 24/5/2024 ông P1 đã sử dụng thẻ với số tiền 47.205.261 đồng nhưng đến nay chưa thanh toán vốn gốc là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, đây cũng là quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Xét, chấp nhận.
Trong Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG ngày 19/8/2022 Ngân hàng với ông Huỳnh Bá P1 đã có thỏa thuận về mức lãi suất, cách tính lãi, ngày thanh toán tiền lãi và trường hợp chuyển nợ quá hạn theo biểu phí phát hành và sử dụng thẻ áp dụng cho tất cả các đối tượng khách hàng (hiệu lực ngày 01/7/2022).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này” và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận mức lãi suất, cách tính lãi suất nêu trên do Ngân hàng và ông Huỳnh Bá P1 tự thỏa thuận đã được thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Do vậy việc nguyên đơn yêu cầu ông Huỳnh Bá P1 phải thanh toán toàn bộ số nợ lãi lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hạn mức tín dụng từ ngày 24/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay (có bảng kê chi tiết tính lãi). Xét, chấp nhận.
Từ phân tích tại mục [2], [3] buộc chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông P1 phải có trách nhiệm trả vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng, cụ thể:
Buộc Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X:
- Tiền lãi: 275.964.592 đồng, gồm lãi trong hạn: 27.259.796 đồng, lãi quá hạn: 246.872.898 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.831.898 đồng) (có bảng kê chi tiết tính lãi) tính từ ngày 22/7/2023 đến ngày 24/5/2024.
- Vốn gốc: 1.950.000.000 (một tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng.
Buộc ông Huỳnh Bá P1 trả nợ Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG với số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 83.671.506 đồng (gốc: 47.205.261 đồng, lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đồng bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
[4] Về tài sản thế chấp, để đảm bảo cho khoản vay, ông Huỳnh Bá P1 đã thế chấp quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001” (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 270/2022/EIBAG-TD/TCTS.TC ngày 19/8/2022 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Huỳnh Bá P1), để đảm bảo cho số tiền vay 1.950.000.000 đồng và số tiền 48.817.043 đồng theo Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với ông P1.
Đây là tài sản thế chấp hợp pháp; ông P1 đã tự nguyện thế chấp tài sản hợp pháp của mình để đảm bảo cho khoản tiền vay. Hợp đồng thế chấp được ký kết trên tinh thần tự nguyện; hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Hợp đồng được lập thành văn bản, được chứng thực và đã đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 117, 119, 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Trường hợp ông P1 không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 299, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Xét, chấp nhận.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Huỳnh Bá P1 phải chịu chi phí bồi dưỡng xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng. Ông P1 phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6] Án phí: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 117, 118, 119, 280, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X về việc “Tranh chấp kinh doanh thương mại, hợp đồng tín dụng” đối với Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1;
Buộc Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X:
- Tiền lãi: 275.964.592 đồng, gồm lãi trong hạn: 27.259.796 đồng, lãi quá hạn: 246.872.898 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.831.898 đồng) (có bảng kê chi tiết tính lãi) tính từ ngày 22/7/2023 đến ngày 24/5/2024.
- Vốn gốc: 1.950.000.000 (một tỷ chín trăm năm mươi triệu) đồng.
Buộc ông Huỳnh Bá P1 trả nợ Thẻ tín dụng số thẻ VISA VÀNG với số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 83.671.506 đồng (gốc: 47.205.261 đồng, lãi: 33.807.535 đồng, phí overlimit dự thu 388.986 đồng, lãi dự thu 2.269.724 đồng
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đồng bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Trường hợp chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất (diện tích đất 1.129,2 m², Thửa đất số: 76, Tờ bản đồ số: 5) tại xã T, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DĐ747614, số vào số CS13040 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 04/01/2022 mang tên Phạm Văn T và Trần Thị D, Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cập nhật nội dung thay đổi ngày 15/7/2022 với nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Bá P1, sinh năm 1984, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; theo hồ sơ số: 007803.CN.001” để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 và ông Huỳnh Bá P1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
Ông Huỳnh Bá P1 phải chịu chi phí bồi dưỡng xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng. Ông P1 phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá P1 phải chịu 76.519.000 (bảy mươi sáu triệu năm trăm mười chín nghìn) đồng (của số tiền 2.225.964.592 đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ông Huỳnh Bá P1 phải chịu 4.183.000 (bốn triệu một trăm tám mươi ba nghìn) đồng (của số tiền 83.671.506 đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 35.620.000 (ba mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007614 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.
Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp kinh doanh thương mại, hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kinh doanh thương mại, hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chủ hộ kinh doanh Huỳnh Bá Phúc vay EXB không thanh toán đúng thỏa thuận
