Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK HÀ TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM-ST

Ngày: 23/8/2024.

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thu Liên và ông Hà Văn Thiện.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Ly- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST- KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (viết tắt là A); Địa chỉ: Tòa nhà A, số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích Đ – Giám đốc A Chi nhánh huyện Đ, Kon Tum.

Bà Nguyễn Thị Bích Đ ủy quyền lại cho ông Lê Văn C - Chức vụ: Phó Giám đốc A Chi nhánh huyện Đ, Kon Tum tham gia tố tụng tại Toà án (Văn bản ủy quyền ngày 23/7/2024); Địa chỉ: A H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1982 và chị Lê Thị T, sinh năm 1982; Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N1 trình bày:

Giữa Ngân hàng N1 (Sau đây gọi là Ngân hàng hoặc A) với ông Trần Văn H và bà Lê Thị T đã giao kết các Hợp đồng tín dụng với nội dung cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023 với nội dung:

    Theo hợp đồng ông H và bà T vay Ngân hàng số tiền: 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng). Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ phương án kinh doanh thu mua cà phê. Lãi suất cho vay: 10,5%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn cho bên vay cho đến ngày bên vay phải trả hết nợ gốc, lãi vay theo thỏa thuận. Kỳ hạn trả nợ gốc: 1 kỳ, vào ngày 17/01/2024. Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng/lần.

  2. Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023 với nội dung:

    Theo hợp đồng ông H và bà T vay Ngân hàng số tiền: 100.000.000 đồng (Đã giải ngân 100.000.000 đồng). Mục đích vay vốn: Chăm sóc cà phê 1.000 cây tại xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Lãi suất cho vay: 9,50%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn cho bên vay cho đến ngày bên vay phải trả hết nợ gốc, lãi vay theo thỏa thuận. Kỳ hạn trả nợ gốc: 1 kỳ, vào ngày 23/06/2024. Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng/lần.

  3. Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023 với nội dung:

    Theo hợp đồng ông H và bà T vay Ngân hàng số tiền: 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng). Mục đích vay vốn: Chăn nuôi bò vỗ béo. Lãi suất cho vay: 9,00%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn cho bên vay cho đến ngày bên vay phải trả hết nợ gốc, lãi vay theo thỏa thuận. Kỳ hạn trả nợ gốc: 1 kỳ, vào ngày 27/06/2024. Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng/lần.

  4. Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023 với nội dung:

    Theo hợp đồng ông H và bà T vay Ngân hàng số tiền: 200.000.000 đồng (Đã giải ngân 200.000.000 đồng). Mục đích vay vốn: Chăm sóc cà phê 2.000 cây tại xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Lãi suất cho vay: 8,50%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn cho bên vay cho đến ngày bên vay phải trả hết nợ gốc, lãi vay theo thỏa thuận. Kỳ hạn trả nợ gốc: 1 kỳ, vào ngày 20/10/2024. Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng/lần.

  5. Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023 với nội dung:

    Theo hợp đồng ông H và bà T vay Ngân hàng số tiền: 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng). Mục đích vay vốn: Chăm sóc cà phê 6.000 cây tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Lãi suất cho vay: 8,50%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 12 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn cho bên vay cho đến ngày bên vay phải trả hết nợ gốc, lãi vay theo thỏa thuận. Kỳ hạn trả nợ gốc: 1 kỳ, vào ngày 25/08/2024. Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng/lần.

  6. Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 với nội dung: Theo hợp đồng ông H được Ngân hàng cấp một thẻ tín dụng có hạn mức là 30.000.000 đồng. Ngày đến hạn thanh toán: sau 25 ngày kể từ ngày sao kê giao dịch. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông H đã thực hiện các giao dịch và dư nợ đến thời điểm ngày 11/03/2024 là 28.562.615 đồng. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Để đảm bảo khoản vay trên giữa Ngân hàng với ông H và bà T đã ký kết các hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5102LCL202200765 ngày 23/06/2022 đã được ký kết giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông Trần Văn H và bà Lê Thị T. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 167; tờ bản đồ số 02; Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 561777, số vào sổ CH 00883 do UBND huyện Đ, tỉnh Kon Tum cấp ngày 22/03/2012. Chỉnh lý biến động ngày 26/7/2013 và ngày 22/06/2022.
  2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200944 ngày 16/08/2022 đã được ký kết giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông Trần Văn H và bà Lê Thị T. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 357; tờ bản đồ số 54. Địa chỉ thửa đất: Thôn L, thị trấn Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 899908, số vào sổ CS 09624 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 12/08/2022
  3. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200622 ngày 22/06/2023 đã được ký kết giữa A Chi nhánh huyện Đ với ông Trần Văn H, bà Lê Thị T. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 226; tờ bản đồ số 8. Địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 792617, số vào sổ VP 02666 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh K cấp ngày 01/6/2023.

Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trần Văn H và bà Lê Thị T đã trả được 36.192.372 đồng tiền lãi đến ngày 17/7/2023 và sau đó đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi tiền vay) theo đúng cam kết và đã vi phạm các điều khoản trong các Hợp đồng tín dụng. Từ thời điểm, phát sinh nợ quá hạn gốc và lãi đến nay, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở, làm việc bằng biên bản đôn đốc trả nợ nhưng ông Trần Văn H, bà Lê Thị T vẫn không thực hiện trả hết các khoản nợ vay cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng N1 thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện:

  • Buộc ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 23/8/2024 là: 2.333.716.897 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.100.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 156.219.958 đồng; Tiền lãi quá hạn là 71.730.822 đồng; T1 lãi chậm trả là 5.766.117 đồng và toàn bộ các khoản lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận của cho đến khi ông Trần Văn H và bà Lê Thị T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023 đã ký với ngân hàng. Trường hợp ông Trần Văn H và bà Lê Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, ngân hàng có quyền yêu cầu có thẩm quyền xử lý các tài sản đảm bảo theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã ký kết với Ngân hàng, để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  • Buộc ông Trần Văn H phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi và phí thẻ tín dụng cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 với tổng số tiền tính đến ngày đến hạn thanh toán ngày 23/8/2024 là: 30.253.088 đồng; Trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 28.562.615 đồng; nợ lãi và phí tổng cộng là 1.690.473 đồng và phải thanh toán phần nợ lãi quá hạn, lãi thẻ tín dụng, phí thẻ tín dụng phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong.

Về phía bị đơn ông Trần Văn H và bà Lê Thị T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành giao tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng ông Trần Văn H và bà Lê Thị T vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Theo đơn xin gia hạn đề ngày 02/4/2024 ông H trình bày: Hiện nay vợ chồng ông đi làm xa có việc cá nhân và gia đình cũng đang xoay sở thanh toán nợ với ngân hàng và hứa sẽ trả trong thời gian sớm nhất, xin gia hạn thời gian đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, đến nay ông H và bà T vẫn chưa trả nợ cho ngân hàng. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Văn H và bà Lê Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán, đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật về tố tụng của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung của vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91 và 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1. Buộc ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền tính đến ngày 23/8/2024 là: 2.333.716.897 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.100.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 156.219.958 đồng; Tiền lãi quá hạn là 71.730.822 đồng; T1 lãi chậm trả là 5.766.117 đồng và khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn trả hết khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Trần Văn H và bà Lê Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ. Buộc ông Trần Văn H phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi và phí thẻ tín dụng cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 với tổng số tiền tính đến ngày đến hạn thanh toán ngày 23/8/2024 là: 30.253.088 đồng; Trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 28.562.615 đồng; nợ lãi và phí tổng cộng là 1.690.473 đồng.

Sau khi xử lý phần tài sản thế chấp mà không đủ để trả nợ thì ông H và bà T có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng N1 với bị đơn là ông Trần Văn H và bà Lê Thị T (đều có đăng ký kinh doanh). Tại thời điểm thụ lý và đến thời điểm xác minh, bị đơn có nơi cư trú tại Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Trần Văn H và bà Lê Thị T, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các phương thức tống đạt hợp lệ quy định tại Điều 173 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với các văn bản như Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn theo địa chỉ ghi trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa ngày 24/7/2024, Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyết định hoãn phiên tòa đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

[3.1] Xét thấy, trên cơ sở thỏa thuận về việc vay vốn giữa Ngân hàng N1 với ông Trần Văn H và bà Lê Thị T đã ký kết các Hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023, số tiền vay: 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng); Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023, số tiền vay 100.000.000 đồng (Đã giải ngân 100.000.000 đồng); Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023, số tiền vay 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng); Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023, số tiền vay 200.000.000 đồng (Đã giải ngân 200.000.000 đồng); Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023, số tiền vay: 600.000.000 đồng (Đã giải ngân 600.000.000 đồng) Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 hạn mức là 30.000.000 đồng là các giao dịch dân sự có bảo đảm. Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên là trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc. Hai bên đã thoả thuận về phương thức thanh toán số tiền gốc và lãi suất đã được ghi trong Hợp đồng tín dụng, Kế ước nhận nợ. Lãi suất cho vay của ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật. Thực tế, ngân hàng đã giải ngân số tiền theo từng hợp đồng cho ông Trần Văn H và bà Lê Thị T vay theo các phiếu chuyển khoản vào các ngày 17/01/2023, 23/06/2023, 27/06/2023, 20/10/2023, 25/08/2023. Khi ký kết hợp đồng, bị đơn còn thế chấp quyền sử sụng đất và tài sản gắn liền với đất cho nguyên đơn để đảm bảo khoản vay. Do vậy, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết như trong hợp đồng tín dụng.

Kể từ ngày vay đến ngày 17/7/2023, ông Trần Văn H và bà Lê Thị T chỉ trả được 36.192.372 đồng tiền lãi trong hạn. Sau đó ông H và bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng mặc dù phía ngân hàng đã thông báo, đôn đốc nhiều lần nhưng bị đơn vẫn không thực hiện, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Xét các hợp đồng tín dụng nói trên giữa Ngân hàng với ông H và bà T là các hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi, tính đến thời điểm xét xử các Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023, đã quá hạn trả nợ gốc. Đối với Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023 và Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023, mặc dù chưa đến hạn trả nợ gốc toàn bộ nhưng theo các thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng nói trên thì “Đến kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận trong Hợp đồng (không phụ thuộc vào việc Khách hàng có nhận được Thông báo chuyển nợ quá hạn hay không), nếu Khách hàng không trả nợ và không được Ngân hàng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì Ngân hàng chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà Khách hàng không trả nợ đúng hạn”. Như vậy ông H và bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi của bên vay theo các hợp đồng tín dụng nói trên theo quy định tại Điều 280 và Điều 466 Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải thanh toán một lần số tiền nợ là: Buộc ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 23/8/2024 là: 2.333.716.897 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.100.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 156.219.958 đồng; Tiền lãi quá hạn là 71.730.822 đồng; T1 lãi chậm trả là 5.766.117 đồng và toàn bộ các khoản lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận của cho đến khi ông Trần Văn H và bà Lê Thị T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023 đã ký với ngân hàng. Việc ngân hàng yêu cầu ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải thanh toán toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng là có căn cứ. Về yêu cầu tính lãi quá hạn đối với quá hạn gốc của Ngân hàng là phù hợp với Điều 466 Bộ luật Dân sự và Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 280, 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự và Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, buộc ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải trả cho Ngân hàng A tổng số tiền gốc, lãi tính đến ngày 23/8/2024 là: 2.333.716.897 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.100.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 156.219.958 đồng; Tiền lãi quá hạn là 71.730.822 đồng; T1 lãi chậm trả là 5.766.117 đồng và số tiền lãi phát sinh với mức lãi suất được tính theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông H và bà T trả hết nợ cho Ngân hàng.

[3.2] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ ông Trần Văn H và bà Lê Thị T đã thế chấp cho Ngân hàng N1 các tài sản sau theo các hợp đồng thế chấp sau:

  1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5102LCL202200765 ngày 23/06/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số167; tờ bản đồ số 02; Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 561777, số vào sổ CH 00883 do UBND huyện Đ, tỉnh Kon Tum cấp ngày 22/03/2012. Chỉnh lý biến động ngày 26/7/2013 và ngày 22/06/2022.
  2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200944 ngày 16/08/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 357; tờ bản đồ số 54. Địa chỉ thửa đất: Thôn L, thị trấn Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 899908, số vào sổ CS 09624 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 12/08/2022
  3. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200622 ngày 22/06/2023. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 226; tờ bản đồ số 8. Địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 792617, số vào sổ VP 02666 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh K cấp ngày 01/6/2023.

Các hợp đồng thế chấp do ông Trần Văn H và bà Lê Thị T cùng ký đã được công chứng và tài sản được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Kon Tum vào các ngày 23/06/2022, 16/08/2022 và 22/06/2023 tương ứng với từng Hợp đồng thế chấp theo đúng quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực. Tại thời điểm thế chấp tài sản cho Ngân hàng, ông Trần Văn H và bà Lê Thị T có quan hệ là vợ chồng, tài sản thế chấp trên thuộc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông Trần Văn H và bà Lê Thị T không trả được nợ đúng theo thỏa thuận, nên căn cứ vào các Điều 298, 299, 303, 317, 318; 319; 320; 321; 322 và Điều 323 Bộ luật dân sự thì tài sản thế chấp nói trên sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Văn H và bà Lê Thị T còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 cho đến khi thanh toán xong.

[3.3] Trong đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu ông H và bà T phải thanh toán cả dư nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 28.562.615 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện: Chỉ buộc ông Trần Văn H phải thanh toán thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi và phí thẻ tín dụng cho Ngân hàng. Xét thấy, Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 là hợp đồng mở thẻ tín dụng của cá nhân ông Trần Văn H, chỉ có ông H ký kết Hợp đồng với Ngân hàng và không có căn cứ cho rằng ông H sử dụng thẻ với mục đích thiết yếu của gia đình nên việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận. Buộc ông Trần Văn H phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi và phí thẻ tín dụng cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/06/2022 với tổng số tiền tính đến ngày đến hạn thanh toán ngày 23/8/2024 là: 30.253.088 đồng; Trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 28.562.615 đồng; nợ lãi và phí tổng cộng là 1.690.473 đồng và phải thanh toán phần nợ lãi quá hạn, lãi thẻ tín dụng, phí thẻ tín dụng phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Đối với số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), căn cứ các Điều 155, 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải chịu toàn bộ và có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng A.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải chịu 78.674.337 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ chung; ông Trần văn H1 còn phải chịu 1.512.654 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm với khoản nợ riêng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 155; Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 186; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280; Điều 298; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 323; Điều 357; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 5; Điều 10; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.

[1] Buộc ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải trả cho giữa Ngân hàng N1 tổng số tiền là 2.333.716.897 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm mười sáu ngàn tám trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 2.100.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 156.219.958 đồng; Tiền lãi quá hạn là 71.730.822 đồng; T1 lãi chậm trả là 5.766.117 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/8/2024), cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Văn H và bà Lê Thị T còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền còn lại phải thi hành, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202300211 ngày 17/01/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301567 ngày 23/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202301586 ngày 27/06/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302538 ngày 20/10/2023, Hợp đồng tín dụng số 5102LAV202302121 ngày 25/08/2023 và các giấy nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay, theo từng thời kỳ của Ngân hàng N1, thì lãi suất mà ông Trần Văn H và bà Lê Thị T vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N1.

Trường hợp, ông Trần Văn H và bà Lê Thị T không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm đã ký kết theo các hợp đồng sau để thu hồi nợ:

  1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5102LCL202200765 ngày 23/06/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 167; tờ bản đồ số 02; Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 561777, số vào sổ CH 00883 do UBND huyện Đ, tỉnh Kon Tum cấp ngày 22/03/2012. Chỉnh lý biến động ngày 26/7/2013 và ngày 22/06/2022 mang tên bà Lê Thị T.
  2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200944 ngày 16/08/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 357; tờ bản đồ số 54. Địa chỉ thửa đất: Thôn L, thị trấn Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 899908, số vào sổ CS 09624 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 12/08/2022 mang tên ông Trần Văn H và bà Lê Thị T.
  3. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5102LCL202200622 ngày 22/06/2023. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 226; tờ bản đồ số 8. Địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 792617, số vào sổ VP 02666 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh K cấp ngày 01/6/2023 mang tên ông Trần Văn H và bà Lê Thị T.

Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Văn H và bà Lê Thị T còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 cho đến khi thanh toán xong.

[2] Buộc ông Trần Văn H phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền nợ theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Lộc Việt số 2206004126 ngày 13/06/2022 tính đến ngày đến hạn thanh toán ngày 23/8/2024 là: 30.253.088 đồng (Ba mươi triệu hai trăm năm mươi ba ngàn không trăm tám mươi tám đồng); Trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 28.562.615 đồng; nợ lãi và phí tổng cộng là 1.690.473 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng mở thẻ tín dụng ngày 13/06/2022.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp tại Tòa án.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Trần Văn H và bà Lê Thị T phải chịu số tiền là 78.674.337 đồng (Bảy mươi tám triệu sáu trăm bảy mươi bốn ngàn ba trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông Trần Văn H phải chịu số tiền là 1.512.654 đồng (Một triệu năm trăm mười hai ngàn sáu trăm năm mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ riêng.
  • Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum là 38.509.118 đồng (Ba mươi tám triệu năm trăm linh chín ngàn một trăm mười một đồng) theo biên lai số 0001378 ngày 26/3/2024.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024) nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đăk Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Quý Nhân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Huỳnh Thị Thu Liên

Hà Văn Thiện

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quý Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp họp đồng tín dụng Hòa Tiếp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger