TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05/01/2026 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Huy Long |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Quốc Đấu |
| Ông Nguyễn Đình Cát |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 1- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 214/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Xuân H năm 1981; Địa chỉ cư trú: Số A, ngõ C, đường N, khối T, phường V, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: Số A, ngõ C, đường N, khối T, phường V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Bùi Xuân H trình bày:
- Về tình cảm: Anh H và chị Nguyễn Thị T tự tìm hiểu, kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (Nay là phường V), tỉnh Nghệ An vào ngày 19/12/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Tháng 7/2023, chị T đi làm ăn xa, anh H nghe mọi người nói lại là chị T xuất khẩu lao động tại Singapore. Nay Tòa án đã tiến hành xác minh chị T làm thủ tục nhập cảnh vào trong nước chưa có thông tin xuất cảnh, chị T cũng không báo, không liên lạc với anh H anh H biết địa chỉ chị T đâu. Hiện nay anh H tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn chị Nguyễn Thị T
- Về con chung: Anh H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Bùi Xuân Đ, sinh ngày 25/7/2012 và Bùi Hà L ngày 19/5/2019. Hiện nay, cả hai con chung đều đang sống cùng anh H. Nếu được ly hôn, anh H cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1- Nghệ An đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, chị T không có mặt làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị T. Đồng thời cho đến nay, chị T không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không khai báo.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Bùi Xuân H, cho anh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Do hiện nay hai cháu Bùi Xuân Đ, cháu Bùi Hà L sống cùng với anh Bùi Xuân H hiện nay, chị Nguyễn Thị T mặt tại nơi cư trú và không rõ địa chỉ nên giao hai cháu Bùi Xuân Đ, cháu Bùi Hà L anh Bùi Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng: anh H không yêu cầu nên đề nghị chưa xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: anh H không yêu cầu, chị T chưa có ý kiến nên dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự; kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Xuân H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T có địa chỉ cư trú tại Số A, ngõ C, đường N, khối T, phường V, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Nghệ An theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Xuân H trình bày anh H chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường V), tỉnh Nghệ An vào ngày 19/12/2011. Lời trình bày của anh H phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa anh Bùi Xuân H và chị Nguyễn Thị T là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Sau đó chị T bỏ đi không liên lạc với anh H có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị T và anh H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Bùi Xuân H.
[3]. Về con chung: Anh Bùi Xuân H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Bùi Xuân Đ, sinh ngày 25/7/2012 và Bùi Hà L ngày 19/5/2019. Hiện nay, anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị T có mặt tại nơi cư trú. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh H hai chung cho anh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục mới đảm bảo điều kiện tốt nhất cho hai cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Xuân H không yêu cầu chị Nguyễn Thị T phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
[4]. Về tài sản và nợ: Quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Xuân H không yêu cầu giải quyết, chị Nguyễn Thị T không có mặt tại các buổi làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
[5]. Về án phí: Anh Bùi Xuân H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Bùi Xuân H:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Bùi Xuân H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Giao cả hai con chung là Bùi Xuân Đ ngày 25/7/2012 và Bùi Hà L ngày 19/5/2019 cho anh Bùi Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị T.
Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: anh Bùi Xuân H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001002 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Xuân H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Huy Long |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn H - T
