Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST.

Ngày: 25-3-2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Trường;

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (B); trụ sở: Toà tháp B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng giám đốc

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Đức T - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 (B) – Chi nhánh T1.

Đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Trần Đăng Đ - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 (B) - Chi nhánh T1; “có mặt”.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị Thùy N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở đề nghị vay vốn, đề nghị thế chấp tài sản của ông Nguyễn Văn C, Ngân hàng đã cấp tín dụng cho ông C để đáp ứng nhu cầu phục vụ hoạt động kinh doanh. Ngày 25/3/2024, giữa Ngân hàng và ông C ký hợp đồng tín dụng số 01, với số tiền vay là 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 5 tháng, lãi suất 6,7%/năm, để phục vụ hoạt động kinh doanh. Ngày 05/4/2024, giữa Ngân hàng và ông C ký hợp đồng tín dụng số 02, với số tiền vay là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất 7,5%/năm, để phục vụ hoạt động kinh doanh.Để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ, ông C đã ký hợp đồng thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình với Ngân hàng; cụ thể là hợp đồng thế chấp số 01 ngày 13/4/2023 và hợp đồng thế chấp số 02 ngày 13/4/2023 đối với giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 216, tờ bản đồ số 2, xóm A, xã H, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/9/2021.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 05/12/2024, tổng dư nợ là 3.327.358.957 đồng (nợ gốc 3.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 121.741.970 đồng, lãi quá hạn 5.616.987 đồng). Và tính tới thời điểm xét xử, số nợ này là 3.407.697.314 đồng (nợ gốc 3.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 176.604.984 đồng, lãi quá hạn 31.092.330 đồng). Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông C phải trả ngân hàng số nợ trên. Trường hợp, ông Nguyễn Văn C không trả hoặc trả không đủ nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

- Tại các tài kiệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông đồng ý với ý kiến trình bày của Ngân hàng. Do cần vốn để hoạt động kinh doanh ông có ký 02 hợp đồng tín dụng với B chi nhánh N1. Ngày 25/3/2024, vay số tiền 200.000.000 đồng và ngày 05/4/2024, vay số tiền 3.000.000.000 đồng; tổng số tiền gốc đã vay của Ngân hàng là 3.200.000.000 đồng. Đến tháng 7/2024, do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông chưa thể tiếp tục trả lãi và gốc cho ngân hàng. Ông mới vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nhưng Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện khiến việc làm ăn của ông ngày càng khó khăn. Nay Ngân hàng có yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông phải trả số tiền gốc đã vay và tiền lãi phát sinh ông cũng đồng ý và đề nghị được trả dần vì điều kiện kinh tế khó khăn; nếu không trả được ông C sẽ bàn giao tài sản thế chấp cho ngân hàng để thực hiện theo quy định. Vợ ông là bà Vũ Thị Thùy N cũng đã biết nhưng do bị bệnh nên không lên Toà làm việc được và giao cho ông quyết định mọi việc.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/3/2025 là số nợ này là 3.407.697.314 đồng (nợ gốc 3.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 176.604.984 đồng, lãi quá hạn 31.092.330 đồng). Trường hợp, ông Nguyễn Văn C không trả hoặc trả không đủ nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 216, tờ bản đồ số 2, xóm A xã H, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là Tổ dân phố S, thị trấn G). Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Vũ Thị Thùy N đã được Toà án tống đạt hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về Hợp đồng tín dụng:

Ngày 25/3/2024, giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn C ký hợp đồng tín dụng số 01/2024/19900067/HĐTD, với số tiền vay là 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 5 tháng, lãi suất trong hạn 6,7%/năm, để phục vụ hoạt động kinh doanh.

Ngày 05/4/2024, giữa Ngân hàng và ông C ký hợp đồng tín dụng số 02/2024/19900067/HĐTD, với số tiền vay là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất trong hạn 7,5%/năm, để phục vụ hoạt động kinh doanh

Xét thấy, việc ký kết các Hợp đồng tín dụng đã được hai bên thống nhất thỏa thuận, được ký kết bởi người có thẩm quyền, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm các điều cấm, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; nên xác định 02 Hợp đồng tín dụng 01/2024/19900067/HĐTD ngày 25/3/2024 và số 02/2024/19900067/HĐTD ngày 05/4/2024 là hợp pháp có căn cứ pháp lý. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ là giải ngân cho ông C vay số tiển 3.200.000.000 đồng. Ông C đã nhận đủ số tiền vay và đã trả lãi ngân hàng và đến tháng 7/2024 thì vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngân hàng; tính đến ngày 25/3/2025 là ông C nợ Ngân hàng là 3.407.697.314 đồng (nợ gốc 3.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 176.604.984 đồng, lãi quá hạn 31.092.330 đồng). Do vậy Ngân hàng khởi kiện đối với ông C yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên là có căn cứ theo quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.

[4] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, giữa ông Nguyễn Văn C cùng vợ là bà Vũ Thị Thùy N đã ký Hợp đồng thế chấp số 01 ngày 13/4/2023 và hợp đồng thế chấp số 02 ngày 13/4/2023 đối với giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 216, tờ bản đồ số 2, xóm A, xã H, đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh NamĐịnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/9/2021,mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị Thùy N. Xét thấy các hợp đồng thế chấp nêu trên được thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ năng lực, thẩm quyền, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật nên Hợp đồng thế chấp là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Do ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 298, 299, 500, 501 và 502 Bộ luật Dân sự và các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 298, 299, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.

    Buộc ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng TMCP Đ1, chi nhánh N1, số tiền tính đến ngày 25/3/2025 là 3.407.697.314 đồng (nợ gốc 3.200.000.000 đồng, lãi trong hạn 176.604.984 đồng, lãi quá hạn 31.092.330 đồng).

    Trường hợp, ông Nguyễn Văn C không trả hoặc trả không đủ nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số tại 216, tờ bản đồ số 2, xóm A xã H, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là Tổ dân phố S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày ra bản án, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải nộp 100.153.000 đồng. Trả lại Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 49.000.000 đồng tại biên lai số 0002219 ngày 27/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger