|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/KDTM-ST Ngày: 21-03-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Vũ Khắc Tân
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-KDTM ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 188/2025/QĐST-KDTM ngày 05 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X; địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện A (nay là phường A, quận H), thành phố Hải Phòng;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Bùi Văn N1) - Giám đốc; có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: Số 1 đường H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Vũ Xuân B - Giám đốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần X và Công ty Cổ phần Đ đã ký Hợp đồng mua bán vật tư số 1103/2012/HĐMBVT 11/3/2012. Theo nội dung hợp đồng thì Công ty Cổ phần X cung cấp vật tư xây dựng là: Cát bê tông, cát sông hồng, đá 1x2 đá 2x4...cho công trình dự án “Kinh doanh hạ tầng khu dân cư đô thị phía bắc Khách sạn H và khu ngã ba Xoáy nguồn tại phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Khối lượng vật tư, đơn giá vật liệu xây dựng được hai bên xác nhận thực tế tại công trình và thời điểm giao nhận. Thời điểm thanh toán trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày hoàn thành công trình, nếu chậm thanh toán thì phải chịu lãi suất quá hạn đối với khoản tiền chậm trả.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần X đã cung cấp đủ số lượng vật tư xây dựng, đúng chủng loại, đúng quy cách, đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ giao nhận; việc bốc xếp, vận chuyển vật tư đến chân công trình, đổ vật tư đúng vị trí theo yêu cầu của Công ty Cổ phần Đ, được hai bên xác nhận khối lượng và đối chiếu công nợ. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần Đ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần X. Sau nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc đòi nợ và Công ty Cổ phần Đ cũng nhiều lần hứa hẹn trả nợ thì đến ngày 10/3/2014 Công ty Cổ phần Đ đã có giấy hẹn Công ty Cổ phần X đến làm việc vào ngày 11/3/2014 để giải quyết công nợ. Tại buổi làm việc ngày 11/3/2014, người đại diện theo pháp luật của hai Công ty đã đối chiếu công nợ và xác định Công ty Cổ phần Đ còn nợ Công ty Cổ phần X số tiền là 1.338.532.000đồng và thỏa thuận việc trả nợ như sau:
Từ ngày 11/3/2014 đến ngày 14/3/2014 trả nợ 30.000.000đồng.
Cuối tháng 4/2014 sẽ bàn giao tài sản là quyền sử dụng đất để đối trừ nợ, nếu không bàn giao quyền sử dụng đất thì trả nợ từ 100.000.000đồng đến 200.000.000đồng.
Số tiền nợ còn lại sẽ trả hết trong năm 2014.
Tuy nhiên, kể từ sau ngày đối chiếu công nợ, Công ty Cổ phần X đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu trả nợ nhưng Công ty Cổ phần Đ cố tình trốn tránh; cho đến ngày 25/01/2025 Công ty Cổ phần Đ đã chuyển khoản trả nợ được 40.000.000đồng. Tính đến nay, Công ty Cổ phần Đ còn nợ số tiền là 1.298.532.000đồng. Vì vậy, Công ty Cổ phần X đề nghị Tòa án nhân dân quận Lê Chân giải quyết buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả số nợ gốc là 1.298.532.000đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút yêu cầu về việc buộc bị đơn phải trả nợ lãi đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định của pháp luật kể từ ngày 01/01/2015 đến khi xét xử sơ thẩm.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với bị đơn Công ty Cổ phần Đ, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo Thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc vào các ngày 17/12/2024; ngày 03/01/2025, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 03/01/2025, Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 21/01/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định về thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng đến ngày mở phiên tòa Công ty Cổ phần Đ vẫn vắng mặt. Do đó, trong hồ sơ vụ án, không có bản tự khai thể hiện ý kiến của bị đơn cũng như không có tài liệu, chứng cứ nào ghi nhận quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán vật tư nên đây là tranh chấp Kinh doanh thương mại phát sinh từ quan hệ hợp đồng giữa hai Công ty và bị đơn có trụ sở hoạt động tại số I đường H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Hợp đồng mua bán vật tư số 1103/2012/HĐMBVT ngày 11/3/2012 được ký kết giữa Công ty Cổ phần X và Công ty Cổ phần Đ là phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần X đã cung cấp hàng hóa cho Công ty Cổ phần Đ đúng như thỏa thuận và có biển bản đối chiếu công nợ. Nay Công ty Cổ phần X khởi kiện yêu cầu Công ty C phân Đại Thiên L phải trả số tiền nợ gốc là 1.298.532.000đồng là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 24; 34; 35; 37; 50; 306 Luật Thương mại; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Công ty Cổ phần X số tiền còn nợ là 1.298.532.000đồng.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số nợ lãi, do nguyên đơn đã rút yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị đơn phải chịu 50.955.960đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước;
Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.078.000đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết:
Công ty Cổ phần X khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán vật tư. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa hai Công ty nhằm mục đích lợi nhuận và bị đơn có trụ sở hoạt động tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đối với bị đơn Cổ phần Đại Thiên L đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Hợp đồng mua bán vật tư số 1103/2012/HĐMBVT ngày 11/3/2012 giữa Công ty Cổ phần X và Công ty Cổ phần Đ được ký kết bởi người đại diện pháp luật của hai Công ty, các bên đã thỏa thuận với nhau về tên hàng, số lượng, chủng loại, giá cả, chất lượng, phương thức, thời hạn thanh toán, địa điểm, thời gian và hình thức giao nhận, hiệu lực của hợp đồng. Các điều khoản trong hợp đồng đều không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đúng ngành nghề kinh doanh, thỏa mãn các điều kiện quy định tại Luật Thương mại.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Công ty Cổ phần X đã cung cấp đúng loại hàng hóa, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, thời gian, địa điểm và hình thức giao nhận giao đúng như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết, có biên bản giao nhận, có biên bản đối chiếu công nợ, phù hợp với quy định tại Điều 34, 35, 37 Luật Thương mại.
Tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 11/3/2014, người đại diện theo pháp luật của hai Công ty đã xác định Công ty Cổ phần Đ còn nợ Công ty Cổ phần X số
tiền là 1.338.532.000đồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đến ngày 25/01/2025 Công ty Cổ phần Đ mới trả được 40.000.000đồng; số tiền còn nợ là 1.298.532.000đồng Như vậy, Công ty Cổ phần Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết nên đã vi phạm về nghĩa vụ thanh thoán của bên mua theo quy định tại Điều 50 Luật Thương mại.
Nay Công ty Cổ phần X yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải có trách nhiệm trả nợ số tiền 1.298.532.000đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi suất: Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại thì bên chậm thanh toán phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn phải trả số nợ lãi đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định của pháp luật kể từ ngày 01/01/2015 đến khi xét xử sơ thẩm; xét yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.078.000 đồng.
Bị đơn phải chịu 50.955.960đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 24, 34, 35, 37, 50 Luật Thương mại; Điều 9 và khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X;
Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Công ty Cổ phần X số tiền còn nợ là 1.298.532.000đ (Một tỷ, hai trăm chín mươi tám triệu, năm trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo Hợp đồng mua bán vật tư số 1103/2012/HĐMBVT ngày 11/3/2012;
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số nợ lãi từ ngày 01/01/2015 đến khi xét xử sơ thẩm.
Về án phí: Công ty Cổ phần Đ phải chịu 50.955.960đồng (Năm mươi triệu, chín trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm sáu mươi đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Trả lại Công ty Cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.078.000₫ (Hai mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003316 ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Thành Trường - Công ty Đại Thiên Lộc
