|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/KDTM-ST
Ngày 19 - 3 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng thuê
nhà xưởng, hợp đồng cung
ứng và sử dụng dịch vụ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC-TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn;
Ông Nguyễn Minh Chí;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Từ ngày 14 đến ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST- KDTM ngày 05 tháng 11 năm 2024; về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng, hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST- KDTM ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần K (Công ty K);
Địa chỉ trụ sở: Lô K, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện: Ông Trần Duy V, chức vụ: Phó Tổng giám đốc điều hành.
Ông Trần Nhân T và bà Dương Minh T1; địa chỉ: Lô K, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Công ty Cổ phần K (theo giấy ủy quyền ngày 20 tháng 01 năm 2025, có mặt).
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ (Công ty Đ);
Địa chỉ trụ sở: Số B, đường T, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện: Ông Lê Thanh N, chức vụ: Tổng Giám đốc;
Bà Nguyễn Thị Thùy V1; địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà U, số F T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn Công ty Cổ phần Đ (theo giấy ủy quyền ngày 21 tháng 01 năm 2025 (vắng mặt )).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Dương Minh T1 trình bày: Giữa Công ty Cổ phần K và Công ty Cổ phần Đ có ký kết các hợp đồng sau:
- 01 hợp đồng thuê xưởng số: 024/2021/HĐNX-KZN ngày 01/6/2021, theo đó Công ty K cho Công ty Đ thuê xưởng Q, đường E, khu X, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An từ ngày 01 tháng 6 năm 2021 đến ngày 30 tháng 6 năm 2024.
- 01 hợp đồng cung cấp tiện ích số: 036/2022/HĐTI-KZN ngày 12/9/2022, theo đó nhà xưởng Q4, Công ty K cung ứng cho Công ty Đ các dịch vụ tiện ích như nước sạch, thu gom xử lý nước thải, cấp điện cho sản xuất, tập kết rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất và chuyển xử lý.
- 01 hợp đồng thuê xưởng số: 018/2024/HĐNX-KZN ngày 03/6/2024, theo đó Công ty K cho Công ty Đ thuê xưởng Q, đường E, khu X, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 đến ngày 30 tháng 6 năm 2027.
- 01 hợp đồng cung cấp tiện ích số: 024/2024/HĐTI-KZN ngày 03/6/2024, theo đó nhà xưởng Q4, Công ty K cung ứng cho Công ty Đ các dịch vụ tiện ích như nước sạch, thu gom xử lý nước thải, cấp điện cho sản xuất, tập kết rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất và chuyển xử lý.
- 01 hợp đồng nguyên tắc cung cấp và sử dụng dịch vụ số: 018/2021/HĐDV- KZN ngày 01/6/2021 và thỏa thuận tiện ích Internet chia sẻ tốc độ cao Kizuna số 007/2022/TTCSI-KZN ngày 24/3/2022, theo đó nhà xưởng Q4, Công ty K sẽ chia sẻ tiện tích Internet cho Công ty Đ hoạt động sản xuất.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Đ nhiều lần thanh toán trễ hạn, vi phạm nghĩa vụ. Mặc dù, Công ty K đã nhiều lần nhắc nhở nhưng Công ty Đ không thực hiện. Do Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty K khởi kiện.
Theo khởi kiện ban đầu Công ty K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty K số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 2.383.432.425 đồng, bao gồm:
+ Tiền gốc là 2.120.195.381 đồng;
+ Tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 263.237.044 đồng.
Theo đơn khởi kiện bổ sung của Công ty K công nợ tạm tính đến ngày 31/12/2024, Công ty Đ còn nợ của Công ty K số tiền 4.310.069.086 đồng, bao gồm:
- Nợ gốc là 3.713.184.053 đồng và nợ lãi chậm trả là 569.885.033 đồng. Sau khi cấn trừ tiền đặt cọc mà Công ty Đ đặt cọc thuê nhà xưởng của Công ty K là 2.501.902.080 đồng nên Công ty Đ còn nợ của Công ty K số tiền 1.808.167.006 đồng. Công ty K yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty K số tiền 1.808.167.006 đồng.
Trong thời hạn Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa thì ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa Công ty Đ với Công ty K tiến hành họp để tính công nợ thì Công ty Đ còn nợ của Công ty K tạm tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025, với số tiền 5.972.861.551 đồng (Tiền gốc 5.385.797.237 đồng và tiền lãi 587.064.314 đồng). Sau khi có biên bản họp tính công nợ ngày 25 tháng 02 năm 2025 và bảng tính công nợ chi tiết đến ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa Công ty K với Công ty Đ đã có trừ số tiền 2.501.902.080 đồng mà Công ty Đ đặt cọc tiền thuê nhà xưởng cho Công ty K nên tạm tính ngày 25 tháng 02 năm 2025, Công ty Đ còn nợ của Công ty K số tiền 5.872.696.494 đồng - 2.501.902.080 đồng = 3.370.794.414 đồng. Do đó, Công ty K khởi kiện bổ sung yêu cầu Công ty Đ có trách nhiệm trả cho Công ty K tạm tính đến ngày 25 tháng 02 năm 2025, với số tiền 3.370.794.414 đồng. Đồng thời, yêu cầu Công ty Đ trả lãi với mức lãi suất 19,965%/năm theo biên bản họp ngày 25 tháng 02 năm 2025 và bản tính công nợ chi tiết ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa Công ty Cổ phần K với Công ty Cổ phần Đ trên số tiền gốc 5.385.797.237 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra, Công ty K còn yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ phải thanh toán số tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết các khoản nợ, theo mức lãi suất 19,965%/năm.
Tại phiên tòa Công ty Đ không có mặt nhưng đã có ý kiến trình bày tại biên bản hòa giải và biên bản làm việc: Đúng là giữa Công ty Đ với Công ty K có ký kết các hợp đồng nêu trên là đúng. Do Công ty Đ hoạt động khó khăn và đã ngừng hoạt động nhà máy Q, đường E, khu xưởng K, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An nên chậm thanh toán nợ cho Công ty K. Ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa Công ty K và Công ty Đ đã họp, trong đó có bàn về kế hoạch thanh toán công nợ thì giữa Công ty K với Công ty Đ đã thống nhất là Công ty Đ còn nợ và phải thanh toán cho Công ty K bao gồm tiền thuê nhà xưởng phát sinh đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 là 3.470.959.471 đồng, sau khi đã trừ số tiền 2.501.902.080 đồng mà Công ty Đ đặt cọc tiền thuê nhà xưởng cho Công ty K.
Tại biên bản làm việc ngày 20 tháng 02 năm 2025, Công ty Đ yêu cầu Tòa án cho rút lại đơn phản tố ngày 21 tháng 01 năm 2025.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, đưa ra xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân
thủ đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng chấp hành đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa Công ty K và Công ty Đ họp đã thống nhất Công ty Đ còn nợ và phải thanh toán cho Công ty K số tiền tạm tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 là 3.470.959.471 đồng. Theo bảng tính công nợ thỏa thuận giữa Công ty K với Công ty Đ tạm tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025, Công ty Đ còn nợ của Công ty K số tiền 5.972.861.551 đồng. Sau khi có biên bản họp ngày 25 tháng 02 năm 2025, thì Công ty Đ còn nợ của Công ty K tạm tính đến ngày 25 tháng 02 năm 2025 là 5.872.696.494 đồng. Sau khi trừ đi số tiền cọc 2.501.902.080 đồng nên Công ty K khởi kiện bổ sung yêu cầu Công ty Đ có trách nhiệm trả cho Công ty K số tiền tạm tính đến ngày 25 tháng 02 năm 2025 là 3.370.794.414 đồng. Đồng thời, Công ty K còn yêu cầu Công ty Đ trả lãi với mức lãi suất 19,965%/năm theo các bên thỏa thuận giữa Công ty K với Công ty Đ trên số tiền gốc 5.385.797.237 đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Công ty K còn yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ phải thanh toán số tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết các khoản nợ, theo mức lãi suất 19,965%/năm là phù hợp.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần K đối với Công ty Cổ phần Đ.
Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại đơn phản tố ngày 21 tháng 01 năm 2025 cho Công ty Cổ phần Đ phản tố đối với Công ty Cổ phần K.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật về tố tụng: Công ty K và Công ty Đ đều là chủ thể có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận nên xác định quan hệ tranh chấp chấp kinh doanh thương mại. Công ty K có ký hợp đồng thuê nhà xưởng và dịch vụ tiện tích với với Công ty Đ tại địa chỉ: Thuê xưởng Q, đường E, khu X, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn Công ty Đ đã được Tòa án thông báo hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt Công ty Đ là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét thấy, ngày 01 tháng 6 năm 2021, giữa Công ty K với Công ty Đ có ký hợp đồng thuê xưởng số: 024/2021/HĐNX-KZN, Công ty K cho Công ty Đ thuê xưởng Q, đường E, khu X, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An từ ngày 01 tháng 6 năm 2021 đến ngày 30 tháng 6 năm 2024. Ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa Công ty K với Công ty Đ có ký hợp đồng cung cấp tiện ích số: 036/2022/HĐTI-KZN, theo đó nhà xưởng Q4 của Công ty K cung ứng cho Công ty Đ các dịch vụ tiện ích như nước sạch, thu gom xử lý nước thải, cấp điện cho sản xuất, tập kết rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất và chuyển xử lý. Công ty K cho Công ty Đ nhà thuê xưởng với tổng diện tích 3.776m², giá cho thuê nhà xưởng và tiền thuế VAT mỗi tháng: Năm 2021 là 458.682.048 đồng, năm 2022 là 481.654.902 đồng, năm 2023 là 505.700.800 đồng, năm 2024 là 530.996.224 đồng; lãi suất trên nợ gốc quá hạn chậm thanh toán là 0,1%/ngày.
[2.2] Ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa Công ty K JV với Công ty Đ có ký hợp đồng thuê xưởng số: 018/2024/HĐNX-KZN, Công ty K cho Công ty Đ xưởng Q4, đường E, khu xưởng K, mở rộng, Khu công nghiệp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 đến ngày 30 tháng 6 năm 2027, được thay thế bởi hợp đồng số 024/2021/HĐNX-KZN, ngày 01 tháng 6 năm 2021. Ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa Công ty K với Công ty Đ có ký hợp đồng cung cấp tiện ích số: 024/2022/HĐTI-KZN theo đó nhà xưởng Q4, Công ty K cung ứng cho Công ty Đ các dịch vụ tiện ích như nước sạch, thu gom xử lý nước thải, cấp điện cho sản xuất, tập kết rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất và chuyển xử lý, được thay thế bởi hợp đồng cung cấp tiện ích số: 036/2022/HĐTI-KZN. Công ty K cho Công ty Đ nhà thuê xưởng với tổng diện tích 3.776m², giá cho thuê nhà xưởng và tiền thuế VAT mỗi tháng: Năm 2024 là 530.996.224 đồng, năm 2025 là 557.537.728 đồng, năm 2026 là 585.408.384 đồng, năm 2027 là 614.691.264 đồng; lãi suất trên nợ gốc quá hạn chậm thanh toán là 0,1%/ngày. Các bên thỏa thuận tiền tính theo quý của năm 2024 là 530.996.224 đồng X 3 tháng = 1.592.988.672 đồng. Thời hạn thuê vẫn còn nhưng do Công ty Đ điều kiện khó khăn không thể tiếp tục hoạt động sản suất và không có tiền để thanh toán tiền thuê xưởng và các dịch vụ tiện ích. Do Công ty Cổ phần Đ vi phạm nên Công ty Cổ phần K khởi kiện ban đầu yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán cho Công ty Cổ phần K số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 2.383.432.425 đồng.
[2.3] Sau đó, Công ty Cổ phần K khởi kiện bổ sung yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 31/12/2024 với số tiền là 4.310.069.086 đồng, gồm: Nợ gốc là 3.713.184.053 đồng và nợ lãi chậm trả là 569.885.033 đồng. Sau khi Công ty K cấn trừ tiền mà Công ty Đ đặt cọc thuê nhà xưởng của Công ty K là 2.501.902.080 đồng thì Công ty Đ còn nợ của Công ty K số tiền tạm tính đến ngày 31/12/2025 là 1.808.167.006 đồng nên Công ty K yêu cầu Công ty Đ trả cho Công ty K số tiền 1.808.167.006 đồng. Tuy nhiên, trong thời hạn Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa ngày 14 tháng 02 năm 2025, thì ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa Công ty Đ với Công ty K tiến hành họp để tính công nợ, giữa Công ty Đ với Công ty K thỏa thuận đến ngày 31 tháng 3 năm 2025, Công ty H còn nợ và phải thanh toán cho Công ty K1 với số tiền 5.972.861.551 đồng (Tiền gốc là 5.385.797.237 đồng và tiền lãi 587.064.314 đồng). Sau khi có biên bản họp tính công nợ ngày 25 tháng 02 năm 2025, thì Công ty Đ còn nợ của Công ty K1 tạm tính đến ngày 25 tháng 02 năm 2025 là 5.872.696.494 đồng (tiền gốc là 5.385.797.237 đồng, tiền lãi 486.899.257 đồng). Sau khi trừ đi số tiền cọc 2.501.902.080 đồng nên Công ty K khởi kiện bổ sung yêu cầu Công ty Đ có trách nhiệm trả cho Công ty K số tiền tạm tính đến ngày 25 tháng
02 năm 2025 là 5.872.696.494 đồng - 2.501.902.080 đồng = 3.370.794.414 đồng. Đồng thời, Công ty K còn yêu cầu Công ty Đ trả lãi với mức lãi suất 19,965%/năm theo biên bản họp ngày 25 tháng 02 năm 2025 và bản tính công nợ chi tiết ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa Công ty K với Công ty Đ trên số tiền gốc 5.385.797.237 đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Ngoài ra, Công ty K còn yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ phải thanh toán số tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết các khoản nợ, theo mức lãi suất 19,965%/năm là có cơ sở.
[2.5] Theo bảng tính công nợ mà các bên đã thừa nhận chi tiết công nợ tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 mà Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty K1 với số tiền 3.470.959.471. Tuy nhiên, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là ngày 19 tháng 3 năm 2025, được tính cụ thể như sau:
Phí dịch vụ tiện ích tháng 3 và tháng 4 năm 2024 thì Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty K nhưng còn nợ lại số tiền lãi 2.896.739 đồng. Tiền thuê nhà xưởng quí 1 và quí 2 năm 2024 thì Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty K nhưng còn nợ lại số tiền 40.954.146 đồng.
[2.6] Công ty Đ còn nợ phí dịch vụ tiện ích của Công ty K:
- Tháng 5 năm 2024, tính đến hạn ngày 07/6/2024, ngày bắt đầu tính lãi 08/6/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 285 ngày: 186.050.283 đồng X 0,0547 %/ngày X 285 ngày = 29.004.309 đồng + 186.050.283 đồng = 215.054.592 đồng.
- Tháng 6 năm 2024, tính đến hạn ngày 07/7/2024, ngày bắt đầu tính lãi 08/7/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 255 ngày: 169.929.231 đồng X 0,0547 %ngày X 255 ngày = 23.702.579 đồng + 169.929.231 đồng = 193.631.810 đồng.
- Tháng 7 năm 2024, tính đến hạn ngày 07/8/2024, ngày bắt đầu tính lãi 08/8/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 224 ngày: 151.705.977 đồng X 0,0547 %/ngày X 193 ngày = 18.588.230 đồng + 151.705.977 đồng = 170.294.207 đồng.
- Tháng 8 năm 2024, tính đến hạn ngày 07/9/2024, ngày bắt đầu tính lãi 08/9/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 193 ngày: 19.521.218 đồng X 0,0547 %/ngày X 193 ngày = 2.060.875 đồng + 19.521.218 đồng = 21.582.093 đồng.
[2.7] Công ty Đ còn nợ tiền thuê nhà xưởng của Công ty K:
- Quí 3 năm 2024, tính đến hạn ngày 05/7/2024, ngày bắt đầu tính lãi 06/7/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 257 ngày: 1.592.988.672 đồng X 0,0547 %/ngày X 257 ngày = 223.940.755 đồng + 1.592.988.672 đồng = 1.816.929.427 đồng.
- Quí 4 năm 2024, tính đến hạn ngày 05/10/2024, ngày bắt đầu tính lãi 06/10/2024, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 165 ngày: 1.592.988.672 đồng X 0,0547 %/ngày X 165 ngày = 143.775.193 đồng + 1.592.988.672 đồng = 1.736.763.865 đồng.
- Quí 1 năm 2025, tính đến hạn ngày 05/01/2025, ngày bắt đầu tính lãi 06/01/2025, ngày tính lãi 19/3/2025, số ngày quá hạn 73 ngày: 1.672.613.184 đồng X 0,0547 %/ngày X 73 ngày = 66.789.117 đồng + 1.672.613.184 đồng = 1.793.402.301 đồng.
[2.8] Tổng số tiền mà Công ty Đ còn nợ của Công ty K tính đến ngày 19 tháng 3 nam 2025 là 5.937.509.180 đồng (trong đó, tiền gốc 5.385.797.237 đồng và tiền lãi 551.711.943 đồng (có số tiền lãi của phí dịch vụ tiện ích tháng 3, 4 năm 2024 và tiền thuê nhà xưởng quí 1, 2 năm 2024 là 43.850.885 đồng + tiền lãi của phí dịch vụ tiện ích tháng 5, 6, 7, 8 năm 2024 và tiền thuê nhà xưởng quí 3, 4 năm 2024 và tiền thuê nhà xưởng quí 1 năm 2025 là 507.861.058 đồng).
[2.9] Sau khi trừ số tiền số tiền 2.501.902.080 đồng mà Công ty Đ đặt cọc tiền thuê nhà xưởng cho Công ty K nên Công ty K yêu cầu Công ty Đ trả số tiền còn nợ tính đến ngày 19 tháng 3 năm 2025 là 5.937.509.180 đồng – 2.501.902.080 đồng = 3.435.607.100 đồng, với mức lãi suất 19,965%/năm là phù hợp với Điều 306 của Luật thương mại và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Công ty K còn yêu cầu Công ty Đ phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn do chậm thực hiện nghĩa vụ sau khi xét xử sơ thẩm, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong biên bản họp ngày 25 tháng 02 năm 2025 và bảng tính công nợ đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 là phù hợp tại khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.10] Việc giữa Công ty Cổ phần K với Công ty Cổ phần Đ thống nhất khoản nợ để Công ty Đ phải có trách nhiệm thanh toán nợ cho Công ty K đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 92 của Bột luật Tố tụng dân sự.
[2.11] Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ và đề nghị của Kiểm sát viên, việc Công ty Cổ phần K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán cho Công ty Cổ phần K tạm tính đến ngày 19 tháng 3 năm 2025 với số tiền 3.435.607.100 đồng đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.12] Trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử Công ty Đ có đơn phản tố, trong thời gian làm thủ tục phản tố theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Công ty Đ có yêu cầu rút đơn phản tố ngày 21 tháng 01 năm 2025. Do vậy, Hội đồng xét xử trả lại đơn phản tố ngày 21 tháng 01 năm 2025 cho Công ty Đ.
[2.13] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần K nên Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền 100.712.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, điểm a khoản 1 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 192, điểm
b khoản 2 Điều 227, Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 306 của Luật thương mại năm 2005;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần K đối với Công ty Cổ phần
Đ.
1. Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Công ty Cổ phần K số tiền 3.435.607.100 (Ba tỷ bốn trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm bảy nghìn một trăm) đồng.
2. Về lãi suất: Công ty Cổ phần Đ tiếp tục trả lãi cho Công ty Cổ phần K tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2025 cho đến khi trả hết các khoản nợ, với mức lãi suất 19,965%/năm theo biên bản họp ngày 25 tháng 02 năm 2025 và bản tính công nợ chi tiết ngày 31 tháng 3 năm 2025, thỏa thuận giữa Công ty Cổ phần K với Công ty Cổ phần Đ.
3. Trả lại đơn phản tố ngày 21 tháng 01 năm 2025 cho Công ty Cổ phần Đ.
4. Về án phí: Công ty Cổ phần Đ phải nộp 100.712.000 (Một trăm triệu bảy trăm mười hai nghìn) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần K số tiền 39.834.000 đồng, mà Công ty Cổ phần K đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0013619, ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
5. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND Tỉnh Long An; - VKSND huyện Cần Giuộc; - CQTHA huyện Cần Giuộc; - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC-TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng, hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ
- Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng, hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC-TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần KI và Công ty Cổ phần đầu tư H
