|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 17/3/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn; Hợp đồng vay tài sản; Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán nhà”;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
- Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Dịu và ông Lâm Bách
- - Thư ký phiên tòa: Ông Mai Ngọc Khương – Thư ký viên
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn; Hợp đồng vay tài sản; Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán nhà”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Văn Thị Ngọc B, sinh năm 1973 (có mặt )
- Ông Lê Xuân P, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Lô D khu K, đường Đ, khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận
- Bà Vương Thị M, sinh năm 1952 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Bà Phạm Thị S, bị đơn ông Nguyễn Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị M cùng kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị S trình bày:
- - Về qun hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào năm 2008, có đến Ủy ban nhân dân thị trấn P làm thủ tục đăng ký kết hôn vào năm 2008. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau; bất đồng từ việc làm ăn kinh tế; cách dạy dỗ con chung; ông T thường xuyên xúc phạm bà. Ông T tự quyết định hết công việc làm ăn và công việc gia đình không bàn bạc với bà và không tôn trọng ý kiến của bà; bà cố gắng chịu đựng để vợ chồng sống hạnh phúc vì gia đình, vì con, nhưng ông T không thay đổi mà làm cho mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống, đến năm 2019 bà đã nộp đơn ly hôn với ông Nguyễn Văn T tại Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, nhưng Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đã bác đơn ly hôn của bà, bà tiếp tục nộp đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên bản án của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, từ khi Tòa án bác đơn xin ly hôn của bà thì bà với ông Nguyễn Văn T vẫn không sống chung với nhau, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống mạnh ai người đó sống, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, nay bà thấy không còn tình cảm với ông Nguyễn Văn T nữa, vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
- - Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/7/2009, hiện do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 5.000.000đồng, kể từ bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi lao động tự túc được.
Hiện nay bà làm nghề giáo viên dạy tại trường tiểu học A, xã A, huyện N hàng tháng thu nhập bình quân khoảng 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng). Ông Nguyễn Văn T hiện làm nghề kinh doanh khí công nghiệp tư nhân gia đình, hàng tháng thu nhập bao nhiêu bà không rõ.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T yêu cầu bà cùng có trách nhiệm trả số nợ 1.200.000.000đồng cho bà Vương Thị M, trong đó 800.000.000đồng mượn tiền mua nhà của bà Văn Thị Ngọc B và 400.000.000đồng để sửa chữa nhà, thì bà không đồng ý, vì số tiền mua nhà bà mượn tiền của em gái bà là bà Phạm Thị H 950.000.000đồng, để giao cho ông Nguyễn Văn T đưa cho bà Văn Thị Ngọc B, còn việc ông Nguyễn Văn T sửa chữa nhà là có, nhưng chỉ 100.000.000đồng chứ không đến số tiền 400.000.000đồng, nhưng việc ông Nguyễn Văn T sửa chữa nhà là tự nguyện của ông Nguyễn Văn T chứ bà không yêu cầu.
- - Còn đối với yêu cầu của bà Văn Thị Ngọc B yêu cầu bà T1 số tiền nợ tiền nhà là 30.000.000đồng, thì bà không đồng ý, vì bà đã giao đủ tiền cho ông Nguyễn Văn T trả đủ tiền nhà cho bà Văn Thị Ngọc B, việc bà giao tiền cho ông Nguyễn Văn T thì không có biên bản gì.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
- - Về hôn nhân: Ông thừa nhận lời trình bày của bà Phạm Thị S về thời điểm kết hôn và đăng ký kết hôn là đúng, còn về mâu thuẫn thì ông cho rằng ông sống vẫn có trách nhiệm với vợ con, nhưng giữa ông với bà Phạm Thị S không có tiếng nói chung, nên hay bất đồng quan điểm sống, vì vậy cũng có xảy ra cãi nhau, năm 2019 bà Phạm Thị S có nộp đơn xin ly hôn với ông tại Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, nhưng Tòa án thấy mâu thuẫn giữ ông với bà Phạm Thị S chưa đến mức trầm trọng, có thể khắc phục được, nên bác đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị S, sau đó bà Phạm Thị S có kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận và Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên bản án của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước. Nay bà Phạm Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông thì ông đồng ý, vì ông cũng không còn tình cảm với bà Phạm Thị S.
- - Về con chung: Vợ chồng sống với nhau 01 con chung tên Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/7/2009, trường hợp ông với bà Phạm Thị S ly hôn, thì ông tôn trọng ý kiến của con, nếu con có nguyện vọng sống với ai thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con chung, còn đối với yêu cầu của bà Phạm Thị S yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000đồng, thì ông không đồng ý.
- - Về tài sản chung: Ông không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Bị đơn có yêu cầu phản tố giải quyết chia nợ chung số tiền 1.200.000.000đồng, cụ thể:
- Ông có nhờ mẹ ông là bà Vương Thị M đứng tên vay ngân hàng 800.000.000đồng để chuyển tiền mua đất và nhà cho bà Văn Thị Bích N, sau khi mua nhà ông tiếp tục mượn thêm bà Vương Thị M số tiền 400.000.000đồng để giao thêm tiền nhà và sửa nhà, tổng cộng 1.200.000.000đồng. Nay ông yêu cầu bà Phạm Thị S phải cùng ông có trách nhiệm trả số tiền trên cho bà Vương Thị M và tiền lãi suất 8,5%/năm là 518.383.562 đồng (Tính từ ngày 14/4/2019 đến ngày 10/5/2024).
- - Đối với bà Văn Thị Ngọc B yêu cầu ông trả số tiền nợ tiền mua nhà và đất là 30.000.000đồng, thì ông không đồng ý, vì theo văn bản thỏa thuận thì vợ chồng bà B, ông P thỏa thuận chịu chi phí thuế và kể cả tiền thuế nâng từ đất trồng cây hàng năm lên đất ở, vì vậy ông đã nâng thửa đất đã mua của vợ chồng bà B, ông P từ đất trồng cây hàng năm lên đất ở và ông đã đóng tiền thuế là 30.000.000đồng, do đó ông không còn nợ tiền gì của bà B, ông P.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Vương Thị M trình bày:
Vào ngày 12/4/2019, ông Nguyễn Văn T có nhờ bà đứng ra vay Ngân hàng số tiền 800.000.000đồng để trả cho bà Văn Thị Ngọc B, vì ông Nguyễn Văn T có mua nhà và đất của bà Văn Thị Ngọc B tại địa chỉ số D tại N, phường T, thành phố P - T, Ninh Thuận để vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S1 sinh sống, số tiền trên bà trực tiếp chuyển khoản cho bà Văn Thị Ngọc B là người chuyển nhượng nhà cho ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S. Sau 10 ngày bà tiếp tục cho ông Nguyễn Văn T mượn thêm số tiền 400.000.000đồng để sửa chữa căn nhà số D tại N, phường T, thành phố P - T, Ninh Thuận mới mua. Tổng cộng bà cho mượn 1.200.000.000đồng
Nay vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S ly hôn, bà yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S phải có trách nhiệm trả lại cho bà số tiền gốc 1.200.000.000đồng đã mượn và tiền lãi suất 8.5%/năm tính từ tháng 4/2019 cho đến nay.
Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Văn Thị Ngọc B trình bày:
Vào năm 2019, bà với chồng bà là ông Lê Xuân P có chuyển nhượng căn nhà và đất địa chỉ số D đường N, khu phố C, phường T, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận cho ông Nguyễn Văn T với giá 920.000.000đồng. Ông Nguyễn Văn T đã trả cho bà tổng cộng 890.000.000đồng thành nhiều lần bằng hình thức nhận tiền mặt và chuyển khoản thông qua số tài khoản của bà đăng ký tại Ngân hàng Đ (B1) 61510083613 đứng tên Văn Thị Ngọc B. Cụ thể như sau: Lần thứ nhất sau khi thỏa thuận bà bán nhà và đất cho ông Nguyễn Văn T xong, thì trong ngày hôm đó có người tên Vương Thị M chuyển khoản cho bà 800.000.000đồng, với “nội dung mẹ Vương Thị M trả tiền mua nhà cho con trai Nguyễn Văn T”; lần thứ hai ông Nguyễn Văn T tiếp tục giao 70.000.000đồng tiền mặt, lần thứ ba đến ngày 01/9/2020 ông Nguyễn Văn T tiếp tục chuyển khoản cho bà số tiền 20.000.000đồng. Hiện nay ông T còn nợ bà số tiền 30.000.000đồng mua nhà. Bà đòi nhiều lần nhưng ông T cứ hứa trả, nhưng vẫn không trả. Còn việc ông Nguyễn Văn T cho rằng giữa vợ chồng bà với ông Nguyễn Văn T có thỏa thuận về việc vợ chồng bà chịu tiền thuế cho ông Nguyễn Văn T nâng đất từ cây hàng năm lên đất ở là không có, vì việc ông Nguyễn Văn T nâng đất lên đất ở thì mang lại giá trị cho ông Nguyễn Văn T sau này, chứ vợ chồng bà không có lợi ích gì.
Quá trình bà giao dịch chuyển nhượng nhà đất địa chỉ 49/11/42 đường N, khu C, phường T, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận chỉ một mình ông T, không có vợ ông T là bà Phạm Thị S. Còn việc ai đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà không biết, vì đây là quyết định của ông Nguyễn Văn T. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả số tiền 30.000.000đồng còn nợ tiền mua nhà và đất cho bà.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H trình bày:
Vào ngày 02/3/2019, bà có cho bà Phạm Thị S là chị ruột bà mượn số tiền 950.000.000đồng để bà S mua nhà ra sống riêng, vì bà Phạm Thị S nói với bà do vợ chồng bà Phạm Thị S mâu thuẫn, nên muốn ra sống riêng. Bà thấy thương chị, nên bà đồng ý cho bà Phạm Thị S mượn số tiền trên. Việc bà cho bà Phạm Thị S mượn số tiền, thì giữa bà với bà Phạm Thị S có lập văn bản đánh máy, nhưng không công chứng, chứng thực, do bà tin tưởng chị mình và bà cũng không tính lãi suất. Việc bà cho bà Phạm Thị S mượn số tiền tại nhà bà và đây là tiền riêng của bà, vì bà chưa lập gia đình.
Việc bà Phạm Thị S mượn tiền bà và bà giao tiền cho bà Phạm Thị S, thì chỉ có một mình bà Phạm Thị S, không có ông Nguyễn Văn T chồng bà Phạm Thị S, do lúc đó bà Phạm Thị S với ông Nguyễn Văn T đã sống ly thân. Thời hạn bà Phạm Thị S phải trả lại tiền cho bà là vào ngày 02/3/2023. Sau khi bà cho bà Phạm Thị S mượn số tiền, thì bà Phạm Thị S có thể chấp báo đảm cho bà 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại thị trấn P, không phải thửa đất mà bà Phạm Thị S và ông Nguyễn Văn T đang tranh chấp. Nay vợ chồng bà Phạm Thị S có tranh chấp ly hôn tòa án đang giải quyết, thì đối với số tiền 950.000.000đồng bà Phạm Thị S mượn bà, thì bà không yêu cầu bà Phạm Thị S trả trong vụ án này, bà sẽ yêu cầu trong vụ án khác và yêu cầu được vắng mặt trong các lần triệu tập sau, cũng như xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 463, Điều 469, Điều 468, Điều 166 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của bà Phạm Thị S với ông Nguyễn Văn T. Bà Phạm Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/7/2009 cho bà Phạm Thị S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. (Hiện con chung đang sống với bà Phạm Thị S).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng: Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/7/2009 mỗi tháng là 3.000.000đồng, kể từ khi Bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi lao động tự túc được.
- Về nợ chung:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và yêu cầu của bà Vương Thị M buộc ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S cùng có trách nhiệm trả số tiền 900.000.000đồng.
- + Buộc bà Phạm Thị S có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho bà Vương Thị M số tiền 450.000.000đồng;
- + Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho bà Vương Thị M số tiền 450.000.000đồng;
- - Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và yêu cầu của bà Vương Thị M buộc bà Phạm Thị S cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ với ông Nguyễn Văn T trả số tiền 300.000.000đồng cho bà Vương Thị M
- + Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho bà Vương Thị M số tiền 300.000.000đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và yêu cầu của bà Vương Thị M buộc ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả số tiền lãi suất 8.5%/năm (Tính từ ngày 12/4/2019 đến ngày 10/5/2024) là 518.383.562đồng.
- - Chấp nhận yêu cầu của bà Văn Thị Ngọc B yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị S cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả số tiền 30.000.000đồng cho bà Văn Thị Ngọc B với ông Lê Xuân P.
- + Buộc bà Phạm Thị S có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị Ngọc B, ông Lê Xuân P số tiền 15.000.000đồng;
- + Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị Ngọc B, ông Lê Xuân P số tiền 15.000.000đồng;
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 01 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn bà Phạm Thị S, bị đơn ông Nguyễn Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị M cùng kháng cáo cùng kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết như sau:
Bà Phạm Thị S kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xác lập quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số CU 540043 cấp ngày 06/8/2020 là tài sản riêng của bà; Bác yêu cầu nợ chung 900.000.000 đồng vì đây là nợ riêng của ông T.
Ông Nguyễn Văn T, bà Vương Thị M cùng kháng cáo yêu cầu xác định nợ chung số tiền 1.200.000.000 đồng và trả số tiền lãi suất 8,5%/năm tính từ ngày 12/4/2019 đến 10/5/2024. Đồng thời ông T còn kháng cáo không đồng ý trả số tiền 30.000.000 đồng cho bà Văn Thị Ngọc B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà S không rút đơn khởi kiện và rút lại yêu cầu kháng cáo; Tại giai đoạn phúc thẩm Bị đơn ông T rút lại yêu cầu phản tố và rút lại một phần nội dung kháng cáo đối với chia nợ chung; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà M rút lại yêu cầu độc lập, rút yêu cầu kháng cáo về số tiền cho vay 1.200.000.000 đồng và tiền lãi. Các bên đương sự đều đồng ý với việc rút yêu cầu của ông T, bà M. Giữa bà B, ông T, bà S không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoàn 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, sửa Bản án sơ thẩm xét xử vụ án theo hướng chấp nhận nội dung kháng cáo của ông T về số tiền 30.000.000 đồng, bác yêu cầu độc lập của bà B. Hủy một phần Bản án sơ thẩm đối với yêu cầu số tiền nợ chung 1.200.000.000 đồng, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà S, nội dung kháng cáo về nợ chung của ông T và bà M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà S, bị đơn ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà M nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, đã nộp tạm ứng án phí và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của các đương sự, Tòa án sơ thẩm xác định chưa đầy đủ các quan hệ pháp luật, do đó cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp cho phù hợp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn; Hợp đồng vay tài sản; Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán nhà”, vụ án thuộc thẩm quyền, phạm vi giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước là đúng quy định theo quy định đúng thẩm quyền, thủ tục theo quy định Khoản 3 Điều 26, Khoản 1,2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với việc rút yêu cầu phản tố chia nợ chung, rút kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T và việc rút yêu cầu độc lập, rút kháng cáo của bà Vương Thị M đối với số tiền vay 1.200.000.000 đồng và lãi suất. Tòa án sẽ hủy một phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu đã rút và đình chỉ giải quyết; Đồng thời, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với việc rút kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị S.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T về khoản tiền 30.000.000 đồng theo yêu cầu độc lập của bà Văn Thị Ngọc B, nhận thấy:
Hợp đồng mua bán nhà số 1275 lập ngày 03/9/2019 được giao kết giữa bà Phạm Thị S và vợ chồng bà Văn Thị Ngọc B, ông Lê Xuân P đối với căn nhà số D đường N thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ 2-10, diện tích 163,4m² với số tiền 920.000.000 đồng. Tại Biên bản thỏa thuận mua bán nhà thể hiện nội dung: “Giá mua bán số tiền 920.000.000 đồng, giá này đã bao gồm chi phí chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư. Bên mua thanh toán trước cho bên bán số tiền 800.000.000 đồng, số còn lại 120.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi hoàn tất thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư, sau khi xong thủ tục chuyển mục đích sau đó bên mua sẽ hoàn tất số tiền còn dư cho bên bán”. Bà B cho rằng bà chỉ nhận được số tiền 890.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng ông T chưa thanh toán đủ, ông T cho rằng số tiền 30.000.000 đồng ông đã chi phí hết cho việc chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư nên không còn nợ.
Quá trình thu thập chứng cứ xác định: Theo Quyết định số 108/QĐ – UBND ngày 17/02/2020 về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở diện tích 151,2m² đường N và Thông báo nộp thuế ngày 20/3/2020 số tiền 189.000 đồng, thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền 27.321.000 đồng kèm theo các giấy nộp tiền mà ông T đã thực hiện nộp vào Ngân sách Nhà nước số 2066157, 2066262 ngày 17/4/2020, số 3839070 ngày 28/7/2020; lệ phí Trích đo bản đồ địa chính của thửa đất... ông T đã trực tiếp bỏ ra chi phí toàn bộ cho việc chuyển mục đích sử dụng đất với số tiền 30.000.000 đồng tương ứng với số tiền còn lại chưa thanh toán trong hợp đồng mua bán nhà, do đó ông T xác định không còn nợ tiền bà B là có cơ sở. Bản án sơ thẩm không căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên về giá bao gồm chi phí chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư, buộc bên mua thanh toán cho bên bán số tiền còn lại 30.000.000 đồng là không có căn cứ.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
[3] Về chi phí tố tụng: số tiền 2.108.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản, ông Nguyễn Văn T tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
[4] Về án phí :
- -Án phí dân sự sơ thẩm: Bà S, ông T, mỗi bên đương sự phải chịu 1/2 án phí thuận tình ly hôn với số tiền 75.000 đồng. Riêng ông T còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con .
- Bà Văn Thị Ngọc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.500.000 đồng đối với yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận.
- -Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà S rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm do đó phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bà Vương Thị M rút yêu cầu khởi kiện, rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa nhưng là người cao tuổi và có đơn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Khoản 1,2 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 165, Điều 293 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 13 Điều 3; Điều 27, Điều 33, 38, 43, 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 166, Điều 430, Điều 440, Điều 463, Điều 468, Điều của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của bà Vương Thị M, yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay; chia nợ chung” số tiền 1.200.000.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị S; Chấp nhận một phần kháng cáo của Bị đơn ông Nguyễn Văn T. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa giữa bà Phạm Thị S với ông Nguyễn Văn T.
Bà Phạm Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Bà Phạm Thị S có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/7/2009 .
Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng); Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc lạm dụng thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Văn Thị Ngọc B về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán nhà” số tiền 30.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Văm T2 tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho bà Vương Thị M.
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Phạm Thị S phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0022669 ngày 06/10/2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hoàn trả cho bà S số tiền chênh lệch 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Nguyễn Văn T phải chịu 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0025553 ngày 12/4/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền chênh lệch 23.625.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
- - Bà Văn Thị Ngọc B phải chịu án dân sự sơ thẩm 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004543 ngày 09/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. bà B phải nộp thêm số tiền 750.000 đồng ( Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004192 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Hoàn trả cho Ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0004189, ngày 27/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn; hợp đồng vay tài sản; tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán nhà
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn; Hợp đồng vay tài sản; Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng mua bán nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham Thi S - Nguyen Van T
