Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 01/2025/DS-ST

Ngày 11-3-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chữ.

Bà Nguyễn Thị Thúy.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án

nhân dân huyện Lục Ngạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia

phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Phạm Văn T, sinh năm 1956; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: TDP L, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1963; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: TDP H, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Ông Trần Xuân Đ1, sinh năm 1956; Vắng mặt.

Địa chỉ: TDP L, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2024 và và những lời khai tiếp theo ông Phạm Văn T trình bày:

Ông và bà Trương Thị Đ có quan hệ làm ăn chung cùng nhau từ trước. Ông bà cùng quen biết với ông Trần Xuân Đ1. Do là chỗ quen biết từ trước nên khi ông Đ1 cần tiền đã hỏi ông và bà Đ cho vay tiền, nên ông bà đã cho vay.

Vào ngày 18/02/2022 ông và bà Đ cùng nhau cho ông Đ1 vay tiền 2 lần, ông Đ1 viết và ký vào phần bên vay của 02 giấy vay tiền, một giấy vay số tiền 1.050.000.000 đồng (một tỉ không trăm năm mươi triệu đồng) và một giấy vay số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng). Tổng số tiền ông Đ1 vay của ông bà là 1.850.000.000 đồng (một tỷ tám trăm năm mươi điệu đồng chẵn). Trong đó của ông bỏ ra là 800.000,000đồng (tám trăm triệu đồng). Nhưng đều gộp thành một giấy cho ông Đ1 vay và ông bà cùng ký vào phần bên cho vay ở hai giấy cho vay tiền. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng, thời hạn vay là 12 tháng.

Ông xác định đây là tiền riêng của ông, ông chỉ cho một mình ông Đ1 vay, không liên quan đến ai khác. Kể từ khi hết thời hạn vay ông cùng bà Đ đã nhiều lần yêu cầu ông Đ1 trả tiền nhưng ông Đ1 bảo không có.

Nay ông đề nghị Tòa án buộc ông Trần Xuân Đ1 trả ông và bà Đ số tiền gốc đã vay theo 02 giấy vay tiền là 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng), trong đó của ông là 800.000,000đồng (tám trăm triệu đồng) ông không yêu cầu ông Đ1 trả tiền lãi suất của khoản tiền trên.

Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2024 và và những lời khai tiếp theo bà Trương Thị Đ trình bày:

Bà và ông Phạm Văn T có quan hệ làm ăn chung cùng nhau từ trước. Ông bà cùng quen biết với ông Trần Xuân Đ1. Do là chỗ quen biết từ trước nên khi ông Đ1 cần tiền đã hỏi bà và ông T cho vay tiền nên ông bà đã cho vay.

Vào ngày 18/02/2022 bà và ông T cùng nhau cho ông Đ1 vay tiền 2 lần, ông Đ1 viết và ký vào phần bên vay của 02 giấy vay tiền, một giấy vay số tiền 1.050.000.000 đồng (một tỉ không trăm năm mươi triệu đồng) và một giấy vay số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng). Tổng số tiền ông Đ1 vay của ông bà là 1.850.000.000 đồng (một tỷ tám trăm năm mươi điệu đồng chẵn). Trong đó của bà bỏ ra là 1.050.000.000 đồng (một tỉ không trăm năm mươi triệu đồng). Nhưng đều gộp thành một giấy cho ông Đ1 vay và ông bà cùng ký vào phần bên cho vay ở hai giấy cho vay tiền. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng, thời hạn vay là 12 tháng.

Bà xác định đây là tiền riêng của bà, bà chỉ cho một mình ông Đ1 vay, không liên quan đến ai khác.

Kể từ khi hết thời hạn vay bà cùng ông T đã nhiều lần yêu cầu ông Đ1 trả tiền nhưng ông Đ1 bảo không có. Nay bà đề nghị Tòa án buộc ông Trần Xuân Đ1 trả bà và ông T số tiền gốc đã vay theo 02 giấy vay tiền là 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng), trong đó của bà là 1.050.000.000 đồng (một tỉ không trăm năm mươi triệu đồng) bà không yêu cầu ông Đ1 trả tiền lãi suất của khoản tiền trên.

Tại bản tự khai và những lời khai tiếp theo bị đơn ông Trần Xuân Đ1 trình bày:

Ông xác định có vay của ông T, bà Đ số tiền 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng) và ký vào phần người vay của 02 giấy vay tiền cùng ngày 18/02/2022 là đúng. Tuy nhiên ông xác định chưa có tiền để trả ông T, bà Đ ngay, ông sẽ thu xếp trả dần nhưng không hẹn trước thời hạn trả, bao giờ có ông sẽ trả.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Trần Xuân Đ1 phải trả ông, bà số tiền 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng), ông, bà không yêu cầu ông Đ1 phải trả tiền lãi.

Tại phiên toà bị đơn ông Trần Xuân Đ1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử công bố tài liệu hồ sơ có trong vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466, Điều 470; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Xuân Đ1 trả số tiền nợ 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng). Ông Trần Xuân Đ1 có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố L, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Do vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Xuân Đ1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Xét hợp đồng vay tài sản giữa ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ với ông Trần Xuân Đ1 thì thấy: Việc vay mượn đã được ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ với ông Trần Xuân Đ1 ký kết ngày 18/02/2022 trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, mục đích và nội dung giao kết không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội vì vậy hợp đồng vay tài sản giữa ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ với ông Trần Xuân Đ1 là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

[3] Xét yêu cầu, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào 02 giấy vay tiền ngày 18/02/2022 ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Trần Xuân Đ1 tổng số tiền 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án ông Đ1 cũng thừa nhận ông là người viết 02 giấy vay tiền và ký vào phần người vay với Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ số tiền 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng) là đúng và không có tiền trả ngay. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Phạm Văn T và bà Trương Thị Đ cùng xác định trong tổng số tiền cho ông Đ1 vay của ông T là 800.000.000đồng (tám trăm triệu đồng), của bà Đ là 1.050.000.000đồng (một tỷ khong trăm năm mươi triệu đồng). Do đó có đủ căn cứ xác định ông Trần Xuân Đ1 có vay của ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ tổng số tiền 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng).

Đối với số tiền lãi do ông T, bà Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Xuân Đ1 là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Trần Xuân Đ1.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466, Điều 470; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ: Buộc ông Trần Xuân Đ1 phải trả ông Phạm Văn T, bà Trương Thị Đ tổng số tiền là 1.850.000.000 đồng (một tỉ tám trăm năm mươi triệu đồng) trong đó ông Phạm Văn T là 800.000.000đồng (tám trăm triệu đồng), bà Trương Thị Đ là 1.050.000.000 (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi xuất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Trần Xuân Đ1.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Chi cục THADS thị xã Chũ.
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 01/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T, Trương Thị Đ - Trần Xuân Đ1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger