|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/ HNGĐ- ST
Ngày 05/02/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trường Ca
Bà Vũ Thị Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương
tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đắc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 405/2024/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị M, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình;
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Chị M, anh C đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn trình bày:
Chị và anh C kết hôn ngày 30 tháng 12 năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi đó, chị và anh C đều 29 tuổi và đều làm thuê tại Hà Nội. Anh chị có thời gian yêu thương, tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, có được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau ngày cưới, anh chị về sinh sống tại gia đình anh C được khoảng 1 tuần thì về lại Hà Nội để làm việc và sinh sống. Ngay từ khi về sinh sống thì anh chị đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm hiểu nhau kĩ càng, về ở thì tính cách, lối sống, suy nghĩ hai gia đình không hòa hợp nhau. Cụ thể, tính tình anh C gia trưởng, anh C nhất nhất mọi việc gia đình đều nghe theo anh và bắt chị phải thường xuyên gọi điện hỏi thăm gia đình bên nội. Hễ gia đình anh có ai nói không tốt về chị là anh quay ra gần hắt, nói năng nặng nhẹ, nếu chị có nói lại là anh chửi bới, xúc phạm. Trong khi đó, bản thân anh hầu như không gọi điện hỏi thăm gia đình chị, coi gia đình chị như người dưng. Chị có góp ý và yêu cầu anh C phải đối xử công bằng gia đình hai bên nhưng anh C không nghe, còn cho rằng chị hỗn láo. Nhiều lần vợ chồng cứ cãi cọ qua lại về việc sinh hoạt hằng ngày, đối xử với hai bên, rồi tiền nong chi tiêu khiến chị rất mệt mỏi. Việc mâu thuẫn của vợ chồng không hòa giải được thì gia đình anh C nhiều lần gọi điện nói này nói nọ về chị, cho rằng chị không làm tròn bổn phận con dâu, không tôn trọng bố mẹ chồng. Đến khoảng giữa năm 2023, anh chị xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Sau một lần vợ chồng xảy ra cãi cọ, chửi bới, xúc phạm nhau, chị không thể chịu đựng được nữa và đã yêu cầu anh C ly hôn. Chị bỏ về quê ở Thái Bình sinh sống. Thời gian sống ly thân, anh C không liên lạc, không tìm đón chị về. Chị xác định anh C không tôn trọng chị và gia đình chị, không thiết tha sinh sống cùng với chị thì chị cũng không muốn sinh sống cùng anh C nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bản thân chị không còn tình cảm vợ chồng với anh C. Anh C muốn đi đâu làm gì thì mặc kệ anh C, chị không quan tâm. Chị kiên quyết giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh C và đề nghị Tòa án nhanh chóng giải quyết ly hôn để chị ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: Đến nay anh chị không có con chung.
Về tài sản chung, nợ: Đến nay, anh chị không có tài sản chung và nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn trình bày:
Anh và chị M kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ anh ở thôn T, xã L. Quá trình sinh sống giữa chị M và mẹ đẻ anh có xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, không ai nhường ai. Mặc dù, anh đã hòa giải hai bên nhưng không thành công. Nay chị M xin ly hôn, anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm vợ chồng.
Về con chung và tài sản chung: Anh chị không có con chung và tài sản chung.
Theo biên bản ghi lời khai ông S- bố đẻ anh C; bản tự khai ông P- bố đẻ chị M thể hiện: Quá trình anh C chị M chủ yếu sinh sống thuê nhà ở Hà Nội nên anh chị mâu thuẫn gì thì ông S không nắm được. Nay chị M xin ly hôn, quan điểm của ông S nếu anh chị không ở được với nhau thì căn cứ theo pháp luật giải quyết. Theo ông P mâu thuẫn giữa chị M anh C bắt đầu từ chuyện bất đồng sinh hoạt hằng ngày, đối xử với hai bên gia đình. Chị M bị bệnh phải vào viện điều trị, anh C không quan tâm, chăm sóc. Trong cuộc sống hàng ngày, anh C không lo lắng kinh tế, thu vén cuộc sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra xung đột, cãi cọ và đã sống ly thân từ tháng 1 năm 2023 đến nay. Gia đình ông P có nhiều lần khuyên giải anh chị về đoàn tụ nhưng chị M nói không thể tiếp tục chịu đựng được nữa nên nay quan điểm của gia đình ông là cuộc sống của anh chị do anh chị tự quyết định, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng anh chị và theo quy định của pháp luạt.
Tại phiên tòa:
Chị M và anh C đều vắng mặt. Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị Vũ Thị M được ly hôn với anh Trần Văn C. Về con chung: Không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Chị Vũ Thị M khởi kiện xin ly hôn đối với anh Trần Văn C có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã L, thành phố C. Trong quá trình giải quyết vụ án xác định anh C thường xuyên không sinh sống tại thôn T, xã L mà sinh sống tại phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã chuyển vụ án lên Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo quy định. Tuy nhiên, quá trình làm việc tại Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, anh C xác định không đăng ký tạm trú tại Hà Nội, sổ hộ khẩu và tạm trú vẫn ở thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, anh xác định nơi ở của anh ở tại thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Anh sẽ đến Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh để làm việc và đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội không thụ lý vụ án này nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Chị M, anh C đều được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và đều vắng mặt. Chị M có đơn xin xử vắng mặt, anh C vắng mặt lần hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M, anh C.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị M và anh Trần Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ tuổi, có đăng ký kết hôn theo luật định. Đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị sinh sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng vì lý do kinh tế, sinh hoạt hằng ngày và đối xử với gia đình hai bên. Mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện mà càng thêm trầm trọng, chị M đi viện, anh C không hỏi han, chăm sóc. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 1 năm 2023 đến nay, bỏ mặc, không còn quan tâm gì đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa án để tiến hành hòa giải quan hệ hôn nhân nhưng anh không có mặt nên việc anh không đồng ý ly hôn chỉ nhằm mục đích kéo dài, gây khó khăn cho chị M. Nay anh cũng không còn biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ quan hệ vợ chồng. Xét quan hệ vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh chị không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3]. Về quan hệ tài sản, nợ: Chị M và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt xem xét giải quyết trong vụ án này.
[2.4]. Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị M.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị M ly hôn anh Trần Văn C.
- Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ: Không đặt ra giải quyết
Về án phí: Chị Vũ Thị M phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đối trừ với số tiền 300.000đồng chị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004002 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương(do chị Nguyễn Thị Y nộp thay).
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Chu Thị Thu Hương |
Bản án số 01/2025/ HNGĐ- ST ngày 05/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 01/2025/ HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị M xin ly hôn anh Nguyễn Văn C
