Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng kinh tế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà.

Ông Lê Văn Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-KDTM ngày 24 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng kinh tế”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART. Địa chỉ trụ sở: Số A, Đường D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn V, chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng S, sinh năm 1972. Địa chỉ nơi làm việc: Số A, Đường D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 28-02-2025). (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH D1. Địa chỉ trụ sở: Số H, Đường N, ấp X, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trầm D, chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 10 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART trình bày:

Vào khoảng tháng 9-2022, Công ty TNHH D1 (viết tắt là Công ty D1) liên hệ, đề nghị Công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X) khảo sát, thiết kế, thi công lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy. Do cần thi công hạng mục phòng cháy chữa cháy phục vụ đoàn kiểm định chất lượng, đánh giá sự phù hợp về điều kiện hoạt động, Công ty D1 yêu cầu Công ty X lắp đặt trước hạng mục hệ thống đèn báo sự cố và đèn báo tín hiệu chỉ dẫn lối thoát hiểm cho nhà xưởng, nhà kho và khối văn phòng, Công ty X thống nhất và đã thi công xong hạng mục này với chi phí là 14.484.000 đồng.

Ngày 15-10-2022, Công ty X và Công ty D1 giao kết Hợp đồng kinh tế số: 17/2022/HĐKT về việc thi công, thiết kế, thẩm duyệt hệ thống phòng cháy chữa cháy, tổng giá trị hợp đồng trọn gói là 783.532.980 đồng. Sau khi giao kết hợp đồng, Công ty D1 chủ động yêu cầu Công ty X tạm dừng thi công do chờ chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất, khi nào xong sẽ thông báo cho Công ty X tiến hành thi công. Tuy nhiên, Công ty D1 không thông báo cho Công ty X để thực hiện hợp đồng, cố tình trì hoãn, không thanh toán chi phí các hạng mục công trình đã thi công, dù nhiều lần Công ty ART yêu cầu nhưng Công ty D1 không có thiện chí thực hiện hợp đồng, không thanh toán chi phí hạng mục công trình đã thi công.

Do đó, Công ty X yêu cầu Công ty D1 phải thanh toán cho Công ty X chi phí hạng mục công trình đã thi công với số tiền 14.484.000 đồng và tiền lãi từ tháng 10-2022 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 10%/năm.

- Đối bị đơn Công ty TNHH D1:

Công ty D1 đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của Công ty X.

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của Công ty X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu Công ty D1 thanh toán số tiền 14.484.000 đồng, rút lại yêu cầu Công ty D1 phải thanh toán tiền lãi.

Công ty D1 vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm:

3

Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty X, buộc Công ty D1 thanh toán cho Công ty X số tiền 14.484.000 đồng; đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của Công ty X về việc yêu cầu Công ty D1 phải thanh toán tiền lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Công ty X khởi kiện yêu cầu Công ty D1 thanh toán số tiền còn nợ do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng kinh tế đã giao kết. Đồng thời, Công ty D1 có địa chỉ trụ sở tại ấp X, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Tranh chấp hợp đồng kinh tế”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Công ty D1 vắng mặt không có lý do. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, người đại diện hợp pháp của Công ty X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Công ty D1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét yêu cầu của Công ty X về việc rút lại yêu cầu Công ty D1 phải thanh toán tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy, việc Công ty X rút lại yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật

4

Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện mà Công ty X đã rút lại.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty X về việc yêu cầu Công ty D1 thanh toán số tiền 14.484.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Trước khi giao kết Hợp đồng kinh tế số: 17/2022/HĐKT ngày 15-10-2022, Công ty X đã thi công hạng mục đèn báo sự cố, đèn tín hiệu chỉ dẫn lối thoát hiểm cho nhà xưởng, nhà kho và khối văn phòng cho Công ty D1, giá trị vật tư đã thi công là 14.484.000 đồng. Ngày 04-4-2024, Công ty X đã trực tiếp gởi hồ sơ đề nghị Công ty D1 thanh toán số tiền 14.484.000 đồng nhưng Công ty D1 không thanh toán. Vào các ngày 30-5-2024, ngày 08-7-2024, ngày 20-8-2024, Công ty X đã thông báo gởi qua dịch vụ bưu chính đề nghị Công ty D1 thanh toán số tiền 14.484.000 đồng nhưng Công ty D1 vẫn không thanh toán, hành vi chậm thanh toán này của Công ty D1 đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty X. Do đó, Công ty X yêu cầu Công ty D1 thanh toán số tiền 14.484.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[5] Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[6] Yêu cầu khởi kiện của Công ty X được chấp nhận nên Công ty X không phải chịu án phí sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Công ty D1 phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty X được chấp nhận.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

5

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART, buộc Công ty TNHH D1 phải thanh toán cho Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART số tiền 14.484.000 đồng.

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án còn phải chịu tiền lãi do chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART về việc yêu cầu Công ty TNHH D1 phải thanh toán tiền lãi.
  3. Về án phí sơ thẩm:
    • - Công ty TNHH D1 phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 3.000.000 đồng.
    • - Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH X thiết bị PCCC ART số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 362.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005759 ngày 17-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thành Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng kinh tế

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger