Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-PT

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương;
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng; Ông Trần Đình Chi
  • Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1971;
  • Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Người đại diện theo pháp luật của anh Hoàng Văn M: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1944.
  • Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Hoàng Văn M: Bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
  • - Bị đơn: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1974;
  • Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Người kháng cáo: Người đại diện theo pháp luật của anh Hoàng Văn M: Bà Phạm Thị T.

(Bà T có mặt, Anh M1 vắng mặt; Bà Bùi Thị Thanh N và Phạm Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật cho nguyên đơn là bà Phạm Thị T trình bày:

Do anh Hoàng Văn M con tôi bị ngã, bị chấn thương sọ não, phải mổ não, dẫn đến ảnh hưởng về não nên đã mất năng lực hành vi dân sự và đã được TAND huyện Hạ Hòa tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định số: 02/2023/QĐST-VDS ngày 14/8/2023, vì vậy tôi là giám hộ đại diện cho anh M để đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa anh M với con dâu tôi là chị Phạm Thị T1.

Anh Hoàng Văn M và chị Phạm Thị T1 kết hôn năm 1991 hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã Đ, huyện T (N là huyện H), tỉnh Phú Thọ đăng ký kết hôn do lâu ngày gia đình tôi không lưu giữ được giấy đăng ký kết hôn của anh M và chị T1 nên không có để nộp cho tòa án được, chỉ có xác nhận của UBND xã anh M và chị T1 có đăng ký kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn chị T1 về làm dâu ngay gia đình nhà tôi và được gia đình tôi cho vợ chồng anh M, chị T2 ăn ở riêng tại khu A xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2015 con tôi không may bị ngã và phải mổ não dẫn đến không nhận thức được hành vi của mình, năm 2018 anh M con trai tôi được Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi chứng nhận là hội viên, từ đó chị T1 là vợ bỏ chồng, không hề chăm nom mà còn đi quan hệ với người khác. Mọi việc chăm nom anh M đều do con gái tôi nhà sát vách với nhà anh M, chị T1 chăm sóc. Để đảm bảo cho việc chăm sóc anh M được tốt, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho anh M con trai tôi được ly hôn với chị T1.

Về con chung: Tôi xác định anh M và chị T1 có 02 con chung cháu Hoàng Văn C, sinh ngày 09/11/1992 và cháu Hoàng Thị Huyền T3, sinh ngày 28/5/1994 hiện nay các con của anh M, chị T1 đều đã thành niên nên tôi không có yêu cầu tòa án giải quyết gì.

Về tài sản chung: Vợ chồng M và chị T1 có một số tài sản chung. Tuy nhiên tôi không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Về công nợ và công sức đóng góp: Tôi không yêu cầu tòa án giải quyết gì.

Trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay bị đơn là chị Phạm Thị T1 trình bày:

Tôi xác nhận về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị bà Phạm Thị T trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 1994 thì anh M hay rượu chè tuy vợ chồng có va chạm, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn còn chưa đến mức phải ly hôn, đến năm 2015 thì anh M đi uống rượu ở quán, không may bị ngã gia đình tôi phải đưa anh M đi điều trị tại bệnh viện Y, bị trấn thương sọ não, nên phải mổ não, dẫn đến anh M không nhận thức được hành vi của mình, bản thân tôi cùng các con vừa phải đi làm để lấy tiền chạy chữa cho anh M vừa phải chăm sóc nuôi dưỡng anh M. Đến năm 2017 anh M được hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi tỉnh Phú Thọ kết nạp vào hội viên và được Nhà nước trợ cấp mỗi tháng là 540.000đ và tôi là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng được trợ cấp 270.000đ/tháng, các khoản tiền này do tôi là người trực tiếp lĩnh để chăm sóc nuôi dưỡng anh M. Đến tháng 8/2023 bà Phạm Thị T mẹ để anh M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh M mất năng lực hành vi dân sự, tại Quyết định số: 02/2023/QĐST - VDS ngày 14/8/2023 của TAND huyện Hạ Hòa đã tuyên bố anh M mất năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên từ đó cho đến nay, mẹ con tôi vẫn chăm sóc nuôi dưỡng anh M không có vấn đề gì xẩy ra. Tuy nhiên vừa qua bà T mẹ đẻ ánh M là người đại diện cho anh M có đơn đề nghị xin ly hôn tôi. Tôi không hiểu vì sao bà T mẹ đẻ anh M lại đại diện cho anh M làm đơn xin ly hôn tôi. Tôi xác định hiện nay vợ chồng tôi vẫn sinh sống ổn định tại nhà riêng, chăm sóc lẫn nhau, các con tôi vẫn cùng tôi chăm sóc anh M, do đó bà T đại diện cho anh M xin ly hôn tôi không nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung cháu Hoàng Văn C, sinh ngày 09/11/1992 và cháu Hoàng Thị Huyền T3, sinh ngày 28/5/1994 hiện nay các cháu đã thành niên, nên tôi không có yêu cầu tòa án giải quyết gì.

Về tài sản chung: Vợ chồng tôi có tài sản chung là ngôi nhà gỗ làm trên diện tích đất 996m2. Toàn bộ tài sản trên là do vợ chồng chị tạo dựng, không liên quan đến ai nên không chia chác gì.

Về công nợ và công sức đóng góp: Tôi không có ý kiến gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cháu Hoàng Thị Huyền T3 là con của anh M và chị T1 trình bày ý kiến

Theo Quyết định số 02/2023/QĐST-VDS ngày 14/8/2023 của Tòa án Nhân dân huyện Hạ Hòa, đã tuyên bố. Bố tôi là ông Hoàng Văn M sinh năm 1971 mất năng lực hành vi dân sự. Theo khoản 2 Điều 48, Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 thì người giám hộ đương nhiên của bố Hoàng Văn M là mẹ tôi Phạm Thị T1. Bố tôi Hoàng Văn M đang sống tại Khu A xã Đ tỉnh Phú Thọ. Trước đây bố tôi là một người nghiện rượu nặng, năm 2015 do say rượu và bị ngã dẫn đến trấn thương sọ não phải đi cấp cứu, mổ não rồi nằm một chỗ nhiều năm. Đến năm 2018 bố tôi bắt đầu khôi phục, nhận biết và đi lại được quanh xóm. Từ trước khi bị tai nạn đến khi tai nạn xảy ra và khi tòa án tuyên bố, bố tôi là ông Hoàng Văn M mất năng lực hành vi dân sự tới nay, gia đình tôi đã chạy chữa, chăm nom chu đáo, không bỏ mặc hay ngược đãi gì với bố tôi. Hiện tại gia đình tôi vẫn đang sống rất yên ổn, bản thân tôi phải đi làm xa nhưng lễ tết hay tranh thủ những ngày nghỉ tôi về thăm bố mẹ. Nay bà nội tôi là Phạm Thị T yêu cầu giải quyết ly hôn giữa bố tôi và mẹ tôi. Tôi là con chung của bố M và mẹ T1 không đồng ý với yêu cầu của bà nội, kính mong Tòa án xem xét xử cho bố mẹ tôi tiếp tục được chung sống với nhau để chăm sóc lẫn nhau, còn bà nội chúng tôi hiện nay đã già yếu không còn sức khỏa và điều kiện để chăm sóc bố tôi.

Tại bản trình bày ý kiến của cháu Hoàng Văn C là con của anh M và chị T1 cũng có quan điểm như cháu T3 đã trình bày ở phần trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đi xác minh làm việc được UBND xã, tư pháp xã và trưởng khu dân cư A xã Đ cho biết: Anh Hoàng Văn M và chị Phạm Thị T1 là công dân có hộ khẩu thường trú tại khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ đã kết hôn với nhau vào năm 1991 và sinh được 02 người con. Quá trình chung sống của anh, chị qua tìm hiểu địa phương thấy anh M hay rượu chè, nhưng vợ chồng vẫn chung sống cùng nhau. Đến năm 2015, anh M bị tai nạn, được gia đình đưa anh đi điều trị tại bệnh viện Y do bị chấn thương sọ não. Bản thân chị T1 và các con anh chị vừa là người chăm sóc, vừa là người lao động để có tiền chạy chữa, thuốc men cho anh M. Do bị chấn thương sọ não, nên năm 2017, anh M được hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi tỉnh Phú Thọ kết nạp vào hội và được nhà nước trợ cấp 540.000đ/tháng, còn chị T1 là người trực tiếp chăm sóc anh M nên được hưởng 270.000đ/tháng. Toàn bộ số tiền trợ cấp trên từ năm 2017 đến nay đều do chị T1 là người lĩnh về để chăm sóc và nuôi dưỡng anh M. Đến tháng 8/2023, Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa ra quyết định tuyên bố anh M mất năng lực hành vi dân sự, từ khi anh M bị tai nạn đến khi bị mất năng lực hành vi dân sự đều do mẹ con chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay bà T là mẹ đẻ của anh M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa anh M và chị T1, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa xét xử bác đơn xin ly hôn để chị T1 và anh M tiếp tục chung sống và chăm sóc lẫn nhau.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 134 và Điều 136 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 5, Điều 17, 18, 19 và khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị T đại diện cho anh Hoàng Văn M với chị Phạm Thị T1.
  2. Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo:

Ngày 14/10/2024, người đại diện theo pháp luật của anh Hoàng Văn M: Bà Phạm Thị T kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đơn kháng cáo của các đương sự đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, các bên đương sự đều thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Phạm Thị T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

- Về án phí: Bà T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

(Chi tiết bài phát biểu của Viện kiểm sát lưu trong hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ Quyết định số 02 ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa để xác định anh Hoàng Văn M là người bị mất năng lực hành vi dân sự, nên theo quy định tại Điều 134 và Điều 136 của Bộ luật dân sự, thì bà Phạm Thị T là mẹ đẻ của anh Hoàng Văn M, là người đại diện theo pháp luật cho anh M. Do vậy, đơn kháng cáo của bà Phạm Thị T trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của bà Phạm Thị T là người đại diện theo pháp luật cho anh Hoàng Văn M. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn M và chị Phạm Thị T1 đăng ký kết hôn năm 1991 trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Đ, huyện T nay là huyện H, tỉnh Phú Thọ, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của anh M và chị T1, bà Phạm Thị T là người đại diện theo pháp luật cho rằng, năm 2015 anh M không may bị ngã và phải mổ não dẫn đến không nhận thức được hành vi của mình. Do vậy, năm 2018 anh M được Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi kết nạp là hội viên và được nhà nước trợ cấp số tiền 540.000đ/tháng, chị T1 là người trực tiếp chăm sóc nên cũng được hưởng số tiền 270.000đ/tháng, từ đó chị T1 là người vợ bỏ chồng, không chăm nom mà đi quan hệ với người khác. Mọi việc chăm nom anh M đều do bà cùng con trai và con gái bà chăm sóc. Để đảm bảo cho việc chăm sóc anh M được tốt, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh M con trai bà được ly hôn với chị T1.

Tại tòa án cấp sơ thẩm, chị T1 cho rằng vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 1994 có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M hay đi uống rượu, tuy vợ chồng có va chạm, nhưng tình cảm vẫn còn. Đến năm 2015, anh M bị ngã chấn thương sọ não, gia đình phải đưa anh đi điều trị và mổ não tại bệnh viện tỉnh Y. Bản thân chị T1 và các con vừa là người chăm sóc, vừa là người lao động để có tiền chạy chữa, thuốc men cho anh M. Năm 2017, anh M được hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi tỉnh Phú Thọ kết nạp vào hội viên và được nhà nước trợ cấp 540.000đ/tháng, chị T1 là người trực tiếp chăm sóc nên được hưởng 270.000đ/tháng. Toàn bộ số tiền này từ năm 2017 đến nay đều do chị T1 là người lĩnh về để chăm sóc và nuôi dưỡng anh M. Đến tháng 8/2023, bà Phạm Thị T (M2 đẻ anh M) có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa tuyên bố anh M mất năng lực hành vi dân sự. Tại Quyết định số: 02/2023/QĐST-VDS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, đã tuyên bố anh Hoàng Văn M mất năng lực hành vi dân sự. Kể từ khi anh M bị tai nạn, đến khi bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đến nay đều do mẹ con chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, không xảy ra mâu thuẫn gì, nên bà T đại diện cho anh M xin ly hôn chị, chị không nhất trí.

Tại cấp phúc thẩm, bà T nộp biên bản họp gia đình có nội dung như bà T đã trình bày trên và có đơn đề nghị Tòa án đi thu thập chứng cứ về việc bà cho rằng từ năm 2014 đến nay anh M do anh Hoàng Văn T4, chị Hoàng Thị H là con gái bà chăm sóc. Tại biên bản xác minh ngày 11/2/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ được chính quyền địa phương cung cấp hiện chị T1 vẫn đang ở cùng anh M. Chị T1 có kinh doanh và ở khu khác xong vẫn thường xuyên chăm sóc, nấu cơm cho anh M, nếu không về được chị vẫn gửi cơm về cho anh M.Việc chị T1 đi buôn bán xa nhà vài cây số cũng do điều kiện kinh tế anh M bị bệnh, chị cần đi làm để lo cho cuộc sống gia đình, trên thực tế anh M và chị T1 vẫn chung sống và chăm sóc lẫn nhau, mặc dù vất vả xong vẫn thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng anh M được chính bà T thừa nhận từ khi anh M bị chấn thương sọ não nằm viện trở về nhà anh M vẫn mạnh khỏe, không bị ốm đau gì. Việc có anh Hoàng Văn T4, chị Hoàng Thị H là con của bà T chăm sóc cho anh M như bà trình bày cũng là tình cảm trách nhiệm của người em trong gia đình. Tại cấp phúc thẩm, ngoài lời trình bày bà T không có tài liệu chứng cứ chứng minh chị T1 có hành vi bạo lực gia đình, làm ảnh hưởng tính mạng sức khỏe, tinh thần vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người vợ đối với anh M và không có cơ sở để xác định hôn nhân của anh M chị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1,3 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình về những căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên. Mặt khác, căn cứ các tài liệu chứng cứ và được bà T thừa nhận tại phiên tòa hiện nay bà đã già yếu (80 tuổi), thường xuyên ốm đau phải đi viện theo đó bà không đủ sức khỏe và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng một người bị bệnh và mất năng lực hành vi dân sự như anh M. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các con của anh M, chị T1 cũng khẳng định chị T1 cùng các con vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng anh M bình thường, không xảy ra bất kỳ vấn đề gì, nên các con không đồng ý việc bà T đại diện cho anh M xin ly hôn chị T1, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh được chính quyền địa phương, nơi chị T1 và anh M sinh sống cũng khẳng định, chị T1 cùng các con vẫn đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc anh M và đề nghị Tòa án xử bác đơn xin ly hôn do bà Phạm Thị T đại diện cho anh M xin ly hôn chị T1.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn đề nghị cho anh Hoàng Văn M ly hôn chị Phạm Thị T1 là có căn cứ. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân dân huyện Hạ hòa là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà T không được chấp nhận, bà T là người cao tuổi xin miễn án phí nên bà T được miễn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Bà Phạm Thị T là người đại diện theo pháp luật cho anh Hoàng Văn M.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/HNGĐ-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 134 và Điều 136 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 5, Điều 17, 18, 19 và khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T là người đại diện theo pháp luật cho anh Hoàng Văn M đề nghị cho anh Hoàng Văn M ly hôn với chị Phạm Thị T1.
  • [2]. Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  • [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T là người cao tuổi xin miễn án phí nên bà T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Hạ Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS;VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HNGĐ-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 01/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Hoàng Văn M xin ly hôn chị Phạm Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger