Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 01/2025/KDTM-PT

Ngày: 24/2/2025

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế

Ông Hoàng Quý Sửu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Đỗ Quang

Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 2 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2024/KDTM-PT ngày 17/5/2024, về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng

Do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐ-PT ngày 11/7/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (S2)

    Địa chỉ: Số B T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hải V - Chuyên viên xử lý nợ. (Có mặt tại phiên tòa)

  2. Bị đơn: Công ty TNHH T2.

    Địa chỉ: Xóm Đ, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H – Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • Ông Phạm Thế V1, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

    • Bà Nguyễn Thị Hải T1, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ I, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)

    • Ông Lê Đức S, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ I, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)

    • Anh Lê Trung S1, sinh năm 1997, địa chỉ: Tổ I, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

      Ủy quyền cho: Ông Lê Đức S, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ I, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)

    • Văn phòng C, địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

    • Ông Vũ Gia Đ, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

    • Bà Đồng Thị H1, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 2, Trại giam P. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/4/2016, Công ty TNHH T2 (Công ty T2) và Ngân hàng S2 đã ký hợp đồng tín dụng số 14198030.28.04. 2016/HĐHMTD với các nội dung chính sau:

  • Hạn mức tín dụng tối đa là 1.990.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng).

  • Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động hoạt động kinh doanh.

  • Thời hạn: 06 tháng kể từ thời điểm giải ngân.

  • Lãi suất cho vay trong hạn: Cố định 9,9%/năm. Lãi suất cho vay trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ được điều chỉnh theo thông báo của S2 trong từng thời kỳ.

  • Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn và được áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn và/hoặc dư nợ lãi quá hạn.

Thực hiện theo Hợp đồng tín dụng trên, S2 đã tiến hành giải ngân cho Công ty T2 theo 02 giấy nhận nợ với tổng số tiền là 1.410.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm mười triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016. Tài sản được thế chấp cho S2 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016/HĐTC, công chứng số 2137, Quyển số 02.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2016. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên, Công ty T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng S2. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu Công ty T2 trả nợ nhưng Công ty T2 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng.

Tính đến ngày 19/3/2021, Công ty T2 mới thanh toán được số tiền là 344.414.809đ (Trong đó: nợ gốc là 290.000.000 đồng, nợ lãi là 54.414.809 đồng). Số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25/3/2024 là: 2.217.079.176đ. Trong đó: Nợ gốc: 1.120.000.000đ; Nợ lãi trong hạn: 6.906.770đ; Nợ lãi quá hạn: 1.090.172.406đ.

Buộc Công ty T2 phải tiếp tục trả nợ cho S2 số tiền nợ lãi, phạt, phí phát sinh theo lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng số 14198030.28.04.2016/HĐHMTD ngày 28/4/2016 và Giấy nhận nợ kèm theo kể từ ngày 20/3/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gốc, lãi phát sinh thì S2 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, bán/chuyển nhượng tài sản bảo đảm của khoản vay là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016 để thu hồi nợ cho S2.

Trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S2 thì Công ty T2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S2 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Bị đơn – Ông Phạm Văn H trình bày: Ông Phạm Văn H là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T2 thừa nhận ngày 24/8/2021, công ty có ký hợp đồng tín dụng số 14198030.28.04.2016/HĐHMTD với Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) để vay số tiền 1.410.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm mười triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016.

Tính đến ngày 19/3/2021, Công ty T2 đã thanh toán cho Ngân hàng S2 số tiền là 344.414.809 đồng (Trong đó: nợ gốc là 290.000.000 đồng, nợ lãi là 54.414.809 đồng).

Công ty T2 sẽ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S2 số tiền còn nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thế V1 trình bày:

Vấn đề liên quan đến hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S2 và Công ty T2 có liên quan đến thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8 do ông V1 đứng tên đã ủy quyền cho Công ty T2 vay vốn. Hiện tại Công ty T2 đã đứng ra trả nợ. Trong trường hợp Công ty T2 không trả được nợ thì Ngân hàng S2 có quyền phát mại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lê Đức S trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, địa chỉ tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên mà Công ty T2 sử dụng để thế chấp cho Ngân hàng S2 là của vợ chồng ông. Ông và bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009.

Năm 2016, ông cho bà Đồng Thị Hồng M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông để đi vay tiền. Sau khi cho bà H1 mượn sổ đỏ một thời gian, bà H1 có nhờ ông ký vào một số giấy tờ để bà H1 làm thủ tục vay tiền. Vì tin tưởng bà H1 nên ông đã ký vào các giấy tờ mà bà H1 đưa, ông không biết nội dung trong những giấy tờ đấy là gì. Ông xác định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của vợ ông là bà Nguyễn Thị Hải T1 trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2016 tại Văn phòng C. Ông thực hiện ký và lăn tay trong hợp đồng chuyển nhượng tại phòng làm việc của bà Đồng Thị H1, lúc đó ông chỉ nghĩ là giấy cho mượn bìa. Ông và bà T1 chưa bao giờ đến phòng C1. Ông chỉ có một chỗ ở duy nhất là ngôi nhà xây dựng trên thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, địa chỉ tại tổ I, phường T, thành phố T. Hiện ông và bà T1 cùng con trai đang ở trên đất. Ông xác định không chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Phạm Thế V1, không được nhận bất cứ khoản tiền nào của ông Phạm Thế V1.

Ông yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2016 giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Thế V1 và Ngân hàng S2 là vô hiệu, yêu cầu Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hải T1 trình bày:

Vợ chồng bà có thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8 ở tổ I, phường T, thành phố T, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Lê Đức S và bà Nguyễn Thị Hải T1. Đây là nơi ở duy nhất của gia đình bà, hiện gia đình bà gồm bà, ông S và con trai là Lê Trung S1 vẫn đang sinh sống trên thửa đất.

Bà không biết việc chuyển nhượng, không được ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Phạm Thế V1, không được nhận bất cứ khoản tiền nào của ông Phạm Thế V1.

Bà T1 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2016 giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Thế V1 và Ngân hàng S2 là vô hiệu, yêu cầu Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trung S1 trình bày:

Anh là con đẻ của ông Lê Đức S và bà Nguyễn Thị Hải T1. Bố mẹ anh có thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8 tại tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Thửa đất có nguồn gốc là của ông bà nội anh tặng cho bố mẹ anh. Hiện anh và ông S, bà T1 đang ở trên diện tích đất này. Anh không biết việc thửa đất đã được chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1, không biết Công ty T2 đã thế chấp thửa đất cho Ngân hàng S2 để vay tiền. Nay Ngân hàng khởi kiện, anh nhất trí với yêu cầu của ông S và bà T1, đề nghị Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S, bà T1 và ông Phạm Thế V1, trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà T1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Đại diện Văn phòng C trình bày:

Thời điểm năm 2016, ông Vũ Gia Đ là công chứng viên, Trưởng văn phòng C, trực tiếp thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1, số công chứng 867, quyển số 01/2016TP/CC-SCC/HĐGD. Với nội dung kết quả giám định số 822/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận chữ ký của bà T1 trong hợp đồng không đúng, đại diện văn phòng công chứng không có ý kiến gì vì thời điểm đó ông Đ trực tiếp thực hiện việc công chứng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung công chứng. Hiện nay ông Đ đã chuyển sang văn phòng công chứng khác từ tháng 3/2021... ông Lê Đức S phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ông Vũ Gia Đ trình bày:

Ngày 20/4/2016, ông làm công chứng viên tại Văn phòng C và được tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1. Qua kiểm tra Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đối chiếu với các quy định của pháp luật ông Đ xác định việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 20/4/2016 của Văn phòng C đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Lê Đức S yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 20/4/2016 giữa ông S, bà T1 và ông Phạm Thế V1, ông không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Đồng Thị H1 trình bày:

Bà có quen biết với ông Lê Đức S và bà Nguyễn Thị Hải T1 do cùng làm việc với nhau ở Ủy ban nhân dân phường T. Trước năm 2017, bà có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông S mục đích để vay tiền của Ngân hàng.

Để vay được tiền của Ngân hàng, bà đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8 tại tổ I phường T, thành phố T sang tên cho ông Phạm Thế V1. Sau đó, ông V1 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng S2 để cho Công ty T2 vay số tiền 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng). Công ty T2 chuyển lại cho bà số tiền trên. Tuy nhiên, bà không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh có việc chuyển tiền từ Công ty T2 cho bà.

Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S, bà T1 và ông V1 lập ngày 20/4/2016, bà H1 là người trực tiếp mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S đến văn phòng C để thực hiện việc chuyển nhượng. Sau đó, nhân viên văn phòng C đến nhà ông S để ký hợp đồng chuyển nhượng. Bà H1 xác định thực tế không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S, bà T1 và ông V1, bà chỉ làm thủ tục để vay tiền của Ngân hàng. Ông V1 không phải trả một khoản tiền nào cho ông S.

Nay Ông S và bà T1 yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S, bà T1 và ông V1 thì bà H1 nhất trí với yêu cầu của ông S, bà T1 là hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2016 tại Văn phòng C. Do bà H1 đang phải chấp hành án tại Trại giam nên bà đề nghị giải quyết vắng mặt bà theo quy định của pháp luật.

Tại bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 (S2).

  2. Buộc Công ty TNHH T2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) số tiền tính đến ngày 25/3/2024 là: 2.217.079.176đ (Hai tỷ, hai trăm mười bảy triệu, không trăm bẩy mươi chín nghìn, một trăm bẩy mươi sáu đồng). (Trong đó: Nợ gốc: 1.120.000.000đ. Nợ lãi trong hạn: 6.906.770đ. Nợ lãi quá hạn: 1.090.172.406đ.)

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày 25/3/2024 cho đến khi thi hành xong, Công ty T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 14198030.28.04.2016 /HĐHMTD ngày 28/4/2016. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

  3. Bác yêu cầu của Ngân hàng S2 về xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016.

  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1).

    • Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016. 02/HĐTC ngày 28/4/2016 giữa bên thế chấp là ông Phạm Thế V1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S2 là vô hiệu.

    • Buộc Ngân hàng S2 có trách nhiệm trả cho ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016 bản chính.

  5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Lê Đức S và bà Nguyễn Thị Hải T1).

    • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1 lập ngày 20/4/2016 tại Văn phòng C số công chứng 867, quyển số 01/2016TP/SCC/HĐGD, đối với thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 là vô hiệu.

    • Ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, điều chỉnh biến động về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    • Về hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  6. Giành quyền khởi kiện cho Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) đối với phòng C1 về yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng vụ án dân sự khác (nếu sau này có yêu cầu).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 12/4/2024 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (S2) kháng cáo một phần bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên như sau: Đề nghị Toà án công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 14198030.28.04.2016. 02/HĐTC ngày 28/4/2016 giữa bên thế chấp là ông Phạm Thế V1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S2 có hiệu lực pháp luật; đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S2 về xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016.

Tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) bổ sung nội dung đơn kháng cáo đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ ký và dấu vân tay của bà Nguyễn Thị Hải T1 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 20 tháng 4 năm 2016 tại V2 - Bộ C2; đề nghị Toà án triệu tập thêm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hải Y là cán bộ của Văn phòng C; đề nghị Toà án chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra do có dấu hiệu hình sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông S, bà T1 giữ nguyên ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm. Ngày 20/8/2024 Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên toà để trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của bà T1 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 20 tháng 4 năm 2016 tại V2 - Bộ C2;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (S2); Giữ nguyên bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM - ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  2. Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) về việc sửa một phần bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy:

    • Về yêu cầu giám định chữ viết chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng QSD đất: Ngân hàng cho rằng cấp sơ thẩm lấy mẫu chữ ký của bà T1 trong biên bản lấy lời khai, bản tự khai mà không thu thập thêm mẫu chữ ký khác tại địa phương vào những thời điểm trước khi ra tòa tham gia xét xử hoặc khoảng thời gian năm 2016. Nội dung này Toà án cấp phúc thẩm đã tiến hành thu thập mẫu chữ ký và thực hiện việc giám định theo quy định.

    • Về yêu cầu chưa triệu tập bà Hải Y là cán bộ trực tiếp mang hồ sơ chuyển nhượng QSD đất vào nhà ông S để làm thủ tục chuyển nhượng (nội dung này có trong lời khai của ông Đ – công chứng viên trực tiếp ký hồ sơ công chứng chuyển nhượng QSD đất). Hội đồng xét xử thấy rằng việc triệu tập bà Y không làm thay đổi nội dung vụ án nên hội đồng xét xử không xem xét.

    2.1. Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1:

    • Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất lưu trong hồ sơ vụ án thể hiện bên chuyển nhượng ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1; Bên nhận chuyển nhượng ông Phạm Thế V1; tài sản chuyển nhượng: Thửa đất 453; tờ bản đồ số 8, phường T, thành phố T; Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; và nhà, tài sản gắn liền với đất. Phần dưới của hợp đồng có chữ ký của ông S, bà T1, ông V1. Như vậy, hình thức hợp đồng được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực phù hợp tại quy định tại Điều 689 Bộ luật dân sự 2005.

    • Về nội dung hợp đồng: Mặc dù, trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thề hiện đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 694 BLDS 2005, tuy nhiên, bà T1, ông S cho rằng không được đến Văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do tin tưởng bà H1, ông S đã nhiều lần cho bà H1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vay tiền, sau đó ông S bị bà H1 lừa dối để ký vào một số giấy tờ tại phòng làm việc của bà H1, ông không biết nội dung trong giấy tờ đấy là gì; bà T1 xác định không được ký vào Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Tại kết luận giám định số 822/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: “chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Hải T1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Hải T1 trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một người viết ra” (BL239, 251).

      Tại phiên toà phúc thẩm ngày 20/8/2024 Ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên toà để giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của bà T1 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại V2 - Bộ C2. Tại kết luận số 420/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của V2 - Bộ C2 kết luận: Dấu vân tay in dưới dòng chữ “Nguyễn Thị Hải T1” ở mục “ BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” tại trang 4 hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 20 tháng 4 năm 2016, số công chứng 867, quyển số 01/2016TP/CC-SCC/HĐGD với các dấu vân tay trong chỉ bản số [...], ghi tên Nguyễn Thị Hải T1 sinh ngày 08/11/1974, nơi thường trú: T, TP T không phải của cùng một người. Tại kết luận số 407/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của V2 - Bộ C2 kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký “thanh” tại các trang đánh số 1, 2, 3, và chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Hải T1 dưới mục “ BÊN CHUYỂN NHƯỢNG (BÊN A)” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Hải T1 trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 có phải do cùng một người ký, viết ra hay không.

      Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai, bà Đồng Thị H1 xác định: Bà H1 là người trực tiếp mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Đức S đến Văn phòng C để thực hiện việc chuyển nhượng, sau đó nhân viên văn phòng C đến nhà ông S để ký hợp đồng chuyển nhượng. Bà H1 xác định thực tế không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S, bà T1 và ông V1, bà chỉ làm thủ tục để vay tiền của Ngân hàng. Ông V1 không phải trả một khoản tiền nào cho ông S.

      Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở xác định chữ ký và dấu vân tay của bà T1 trong Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 867, quyển số 01/2016TP/CC-SCC/HĐGD bị giả mạo, hồ sơ chuyển nhượng QSD đất không có văn bản uỷ quyền của bà T1 cho ông S được giao kết hợp đồng chuyển nhượng. Việc trong Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T1, ông S với ông V1 mà không có sự đồng ý, thoả thuận, định đoạt của bà T1 là trái với quy định tại Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Do hợp đồng chuyển nhượng QSD đất được giao kết không đúng quy định của pháp luật nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 128 BLDS 2005.

      Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 với ông Phạm Thế V1 vô hiệu là có căn cứ.

    2.2. Về giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê Đức S và bà Nguyễn Thị Hải T1 không đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu, nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là đúng theo quy định của pháp luật.

    2.3. Xét kháng cáo của nguyên đơn (Ngân hàng S2) về việc xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016.02/HĐTC, công chứng số 2137, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2016 có hiệu lực pháp luật.

    • Về hình thức của hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016.02/HĐTC ngày 28/4/2016 được ký kết giữa bên thế chấp là ông Phạm Thế V1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S2, ông Phạm Thế V1 đồng ý thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016 để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự của Công ty T2. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản, có công chứng theo quy định của pháp luật và được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

    • Về nội dung hợp đồng thế chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1 là vô hiệu. Do đó, ông V1 không được quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8. Ông V1 không được quyền thế chấp tài sản này. Tài sản này cũng không thuộc sở hữu của bên vay là Công ty TNHH T2 nên hình thức hợp đồng thế chấp là không phù hợp với pháp luật theo quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự: “Thế chấp là việc một bên (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (gọi là bên nhận thế chấp)”. Lời khai của ông S và bà T1 thể hiện ngôi nhà cấp 4 này ông S và bà T1 xây dựng năm 1996, đến năm 2014 sửa chữa lại và ở đến nay.

      Quá trình thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện khi ký kết hợp đồng thế chấp, Ngân hàng đến tận nơi có tài sản để xác minh, xem xét thẩm định, định giá tài sản nên không biết ông S bà T1 vẫn quản lý và sử dụng nhà đất, hoặc có đến thẩm định, định giá nhưng không làm hết trách nhiệm nên không có tài liệu chứng minh ông S bà T1 biết việc ông H2 đã thế chấp tài sản này cho S2. Trường hợp này S2 không được coi là bên thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Thế V1 và S2 bị vô hiệu.

      Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016.02/HĐTC ngày 28/4/2016 giữa bên thế chấp là ông Phạm Thế V1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S2 vô hiệu là có căn cứ.

    2.4. Xét kháng cáo của nguyên đơn (Ngân hàng S2) về việc xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 453, tờ bản đồ số 8, diện tích 506,5m2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016 để thu hồi nợ cho S2.

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 và ông Phạm Thế V1 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14198030.28.04.2016.02/HĐTC ngày 28/4/2016 giữa bên thế chấp là ông Phạm Thế V1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S2 đều vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp, buộc Ngân hàng S2 có trách nhiệm trả cho ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 239971, số vào Sổ cấp GCN: H00129/NCN do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 26/8/2009 cho hộ ông Lê Đức S, bà Nguyễn Thị Hải T1, đăng ký chuyển nhượng cho ông Phạm Thế V1 ngày 27/4/2016 bản chính là có căn cứ.

    Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật, kháng cáo của Ngân hàng S2 là không có căn cứ, cần bác toàn bộ kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Về chi phí giám định: Do kháng cáo của Ngân hàng không được chấp nhận nên phải chịu chi phí giám định số tiền là 6.757.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng), đã thực hiện xong.

  4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp, cần được chấp nhận.

  5. Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm:

    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên xử:

    • Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (S2);

    • Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ngân hàng TMCP Đ1 (S2) phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) sung quỹ nhà nước, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) theo biên lại thu số 0004586 ngày 23/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

  4. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Đ1 phải chịu 6.757.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng) chi phí tố tụng, đã thực hiện xong.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Phú Lương;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nguyễn Ích Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm: - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger