Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/DS-ST

Ngày: 19 - 02 – 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng

mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Hằng và ông Huỳnh Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 665/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH J1, địa chỉ: thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ liên lạc: Lầu A, tòa nhà P, số A T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Nhân Á, sinh năm 1992; nơi cư trú: Lầu A, tòa nhà P, số A T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền số 07/2024JCV-GQTC ngày 25/6/2024).

- Bị đơn: Bà Lâm Thị Tuyết H, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Đại diện Công ty J1 – bà Nguyễn Hoàng Nhân Á có mặt; bị đơn bà Lâm Thị Tuyết H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án Công ty TNHH J1 trình bày: Ngày 21/07/2022, Công ty J1 và bà H có giao dịch mua bán hàng hóa, theo đó, bà H mua sản phẩm thức ăn thủy sản được sản xuất bởi Japfa để phục vụ hoạt động kinh doanh của bà H (Thông tin khách hàng – Mở code đại lý mới). Ngày 17/10/2022, J đã giao và bà H đã nhận tổng khối lượng hàng hóa là 14.000kg thức ăn thủy sản tại nhà máy C với tổng số tiền mua hàng là 237.746.500 đồng.

Ngày 19/04/2023, bà H đã xác nhận số tiền mua hàng còn nợ J là 237.746.500 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm đồng) sau đó bà H có trả được 02 lần tổng cộng với số tiền 22.000.000 đồng nên còn nợ lại số tiền 215.746.500 đồng (hai trăm mười lăm triệu, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng), bà H cam kết hạn cuối cho việc thanh toán là ngày 30/07/2023; tuy nhiên bà H không thực hiện việc thanh toán khoản tiền còn nợ lại; Công ty J1 đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ thanh toán qua điện thoại, gửi tín nhắn SMS, cử nhân viên đến nhà gặp và trao đổi trực tiếp nhưng bà H không có thiện chí thực hiện theo cam kết; do đó Công ty TNHH J1 yêu cầu Tòa án buộc bà Lâm Thị Tuyết H phải trả số tiền mua hàng là 215.746.500 đồng (hai trăm mười lăm triệu, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng) và không yêu cầu tính lãi.

Sau khi nộp đơn khởi kiện, bà H tiếp tục trả dần cho Công ty số tiền là 26.587.000 đồng. Tính đến ngày 28/11/2024 thì bà H còn nợ lại Công ty với tổng số tiền mua hàng là 189.159.500 đồng (một trăm tám mươi chín triệu, một trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng). Nay công ty TNHH J1 yêu cầu Toà án buộc bà Lâm Thị Tuyết H trả 189.159.500 đồng và không yêu cầu tính lãi suất. Giữa Công ty và bà H thực hiện giao dịch mua bán với tư cách cá nhân; trong tài liệu của Công ty thể hiện “đại lý”, “quý đại lý” là do Công ty sử dụng mẫu chung chứ bà H không có giấy phép kinh doanh.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lâm Thị Tuyết H trình bày:

Bà Lâm Thị Tuyết H, thừa nhận có giao dịch mua bán theo giấy đề nghị mở code đại lý mới là đại lý cho Công ty TNHH J1 thời gian áp dụng từ ngày 19/7/2022 đến ngày 31/12/2022 nhưng không có đăng ký giấy phép kinh doanh về ngành nghề thức ăn thủy sản. Sau khi thực hiện việc mua bán thức ăn thủy sản với Công ty và đến thời điểm khoảng tháng 8/2023 thì tôi ngưng và còn nợ của Công ty TNHH J1 đến ngày 17/8/2023 với số tiền 217.000.000 đồng theo thư xác nhận số dư công nợ TACN.

Sau khi xác nhận nợ thì tôi có trả dần cho Công ty 3.000.000 đồng/tháng vào ngày 15 hàng tháng, trả được 07 lần, sau đó lại trả tiếp; vào ngày 20/11/2024 tôi có nhận được thư xác nhận số dư công nợ với số tiền 180.000.000 đồng.

Bà H thừa nhận còn nợ Công ty TNHH J1 tổng số tiền 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng và đồng ý trả cho Công ty số tiền này nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên tôi xin trả dần 5.000.000 đồng/tháng từ ngày 15/12/2024 cho đến khi dứt số tiền nợ 180.000.000 đồng.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bà H vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa,

Đại diện Công ty TNHH J1 trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Lâm Thị Tuyết H phải thanh toán cho Công ty vốn vay và lãi tính đến hết ngày 28/11/2024 là 189.159.500 đồng (một trăm tám mươi chín triệu, một trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ, trong lời khai có yêu cầu xin vắng mặt nên trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 BLTTDS năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc thỏa thuận giao dịch mua bán hàng hoá là thức ăn thuỷ sản giữa Công ty TNHH J1 với bà Lâm Thị Tuyết H việc thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ bị đơn đã thừa nhận không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn. Do đó, việc Công ty khởi kiện yêu cầu bà H có trách nhiệm trả một lần số tiền vốn 189.159.500 (một trăm tám mươi chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm) đồng và không yêu cầu tính lãi suất, là có căn cứ. Về phương thức trả nợ, bị đơn có yêu cầu trả mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên không có căn cứ xem xét; Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng,

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Công ty TNHH J1 xác định bị đơn là bà Lâm Thị Tuyết H. Giữa Công ty TNHH J1 (gọi tắt là Công ty) và bà Lâm Thị Tuyết H có thỏa thuận (thỏa thuận miệng, không lặp văn bản) bà H sẽ mua sản phẩm của Công ty và bán lại để hưởng lợi nhuận; trong quá trình thực hiện mua bán thì phát sinh tranh chấp, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất bị đơn không đăng ký kinh doanh, khi phát sinh tranh chấp xảy ra mà một trong các bên là tổ chức, cá nhân mặc dù có mục đích lợi nhuận nhưng không có đăng ký kinh doanh thì cũng không thỏa mãn điều kiện quy định về tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1, điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, do đó xác định đây là tranh chấp dân sự “Tranh chấp hợp đồng mua bán” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Lâm Thị Tuyết H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; Tại biên bản lời khai ngày 21/11/2024 (bút lục: 30) bà H có yêu cầu vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án; căn cứ điểm khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

Về nội dung,

[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá:

Ngày 21/07/2022 Công ty TNHH J1 (gọi tắt là Công ty) với bà Lâm Thị Tuyết H có thoả thuận giao dịch mua bán hàng hoá với hình thức bà H mua sản phẩm của Công ty và bán lại tự hưởng chênh lệch trên từng sản phẩm. Trong quá trình thực hiện giao dịch, bà H thừa nhận còn nợ Công ty J1 tính đến ngày 17/8/2023 với số tiền 217.000.000 đồng theo thư xác nhận số dư công nợ TACN.

Bà H thừa nhận chỉ còn nợ lại Công ty số tiền 180.000.000đồng, tuy nhiên Công ty không thừa nhận khoản tiền còn nợ lại như bà H trình bày; Tòa án thông báo yêu cầu cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ theo thông báo số 222, ngày 20/12/2024 (bút lục: 38) yêu cầu bà H cung cấp thư xác nhận số dư công nợ với số tiền là 180.000.000 đồng nhưng bà H cũng không cung cấp và không chứng cứ chứng minh cho số tiền còn nợ 180.000.000đồng.

Xét, thỏa thuận mua bán hàng hoá giữa Công ty và bà H được giao kết trên cơ sở tự nguyện, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên. Nguyên đơn đã chứng minh được việc đã giao đầy đủ hàng hóa như thỏa thuận, các tài liệu, chứng cứ bị đơn còn nợ, bị đơn không thực hiện theo thoả thuận vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Công ty khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền còn nợ lại là 189.159.500 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu, một trăm năm mươi chin nghìn, năm trăm) đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận:

[5] Về phương thức trả nợ: Bà H xin trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên không có cơ sở xem xét. Do đó phương thức trả nợ sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

Bị đơn có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 228, các Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sựcác điều 430, 440 Bộ luật Dân sựkhoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH J1.

Buộc bà Lâm Thị Tuyết H trả cho Công ty TNHH J1 số tiền 189.159.500 (Một trăm tám mươi chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lâm Thị Tuyết H phải chịu 9.457.975 (Chín triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm bảy mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty TNHH J1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 6.218.000 (Sáu triệu hai trăm mười tám nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0004214 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty TNHH J1.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty TNHH J1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Lâm Thị Tuyết H vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 01/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 228, các Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sựcác điều 430, 440 Bộ luật Dân sựkhoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH J1. Buộc bà Lâm Thị Tuyết H trả cho Công ty TNHH J1 số tiền 189.159.500 (Một trăm tám mươi chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm) đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger