|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HSST
Ngày 19/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng;
Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Len; Bà Trần Thị Gấm.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh tham gia phiên tòa: ông Mai Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Á; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 20/5/1970 tại: xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. CCCD số [...]. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/10. Con ông: Lê Tiến D (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị D1 - SN 1951. Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con cả trong gia đình. Chồng: Nguyễn Hữu T (đã chết). Có 02 con. Con lớn: Nguyễn Thị T1 - SN: 1990 và con thứ 2: Nguyễn Hữu L - SN: 1992. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 07/2024, trong một lần sử dụng mạng xã hội facebook thì Lê Thị Á - SN: 1970 trú tại thôn P, xã P, huyện N xem được video hướng dẫn chế tạo pháo nổ và giới thiệu bán linh kiện chế tạo pháo. Xuất phát từ bản thân không có việc làm ổn định, chồng chết từ năm 2008, con cái đi làm ăn xa, một mình ở nhà chăm cháu nhỏ, vì muốn có thêm tiền thu nhập sử dụng cho việc chi tiêu cuối năm nên Á đã nảy sinh ý định mua các linh kiện về chế tạo pháo nổ để bán nếu ai có nhu cầu mua. Sau đó, Á có đặt mua một số linh kiện như: thuốc pháo, dây cháy chậm, quả cầu giấy (vỏ pháo), đế pháo.... Sau khi mua đầy đủ các linh kiện chế tạo pháo theo như hướng dẫn thì Á đem cất giấu ở dưới nhà kho. Đến khoảng đầu tháng 12/2024, Á mang ra lắp ghép thành pháo nổ, đến đêm ngày 17/12/2024 số lượng pháo nổ làm được 20 quả. Do sợ bị phát hiện trong nhà có pháo nổ nên khoảng 11 giờ 30 ngày 18/12/2024, Lê Thị Á đã bỏ 20 quả pháo nổ đã chế tạo thành phẩm vào thùng xốp chở bằng xe đạp để mang đi cất giấu, trên đường đi đã bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Á, Cơ quan điều tra phát hiện và tạm giữ 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong chứa các vật hình cầu màu đen xám, đường kính mỗi vật từ 0,8 cm đến 01 cm; 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa các hạt vón cục không rõ hình màu đen xám; 01 (một) túi zip nilon trong suốt, viền đỏ, bên trong có chứa chất bột mịn màu trắng; 01 (một) túi zip nilon trong suốt, viền đỏ, bên trong có chứa chất bột mịn màu xám; 01 (một) cuộn dây có vỏ làm bằng vải màu xanh lá cây, lõi dây làm bằng chất bột màu xám; 06 (sáu) đoạn dây gấp khúc có vỏ bằng nilon màu đỏ, lõi dây có 05 (năm) sợi dây bằng vải tẩm chất bột màu xám, một đầu dây gắn với một đoạn dây có vỏ làm bằng vải màu xanh lá cây, lõi dây làm bằng chất bột màu xám; 02 (hai) đoạn dây gấp khúc có vỏ bằng nilon màu xanh nước biển, lõi dây có 01 (một) sợi dây bằng vải tẩm chất bột màu xám, một đầu dây gắn với một đoạn dây có vỏ làm bằng vải màu xanh lá cây, lõi dây làm bằng chất bột màu xám; 01 (một) sợi dây có vỏ bằng nilon màu đỏ, lõi dây có 05 (năm) sợi dây bằng vải tẩm chất bột màu xám được cuộn thành hình tròn đường kính 36 cm. 01 (một) đoạn dây có chiều dài 01 mét, vỏ ngoài bằng vải màu trắng - vàng - đỏ, lõi bên trong bằng chất bột màu xám; 02 (hai) cuộn băng dán lụa màu trắng đã qua sử dụng; 19 (mười chín) phễu giấy hình nón cụt bằng nhau, đường kính đáy nón là 04 cm, đường kính miệng nón là 09 cm; 38 (ba mươi tám) bán cầu rỗng bằng giấy bằng nhau, đường kính 09 cm; 01 (một) con dao rọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng - đen, dài 20 cm.
Để có căn cứ xử lý vụ việc đúng quy định của pháp luật. Ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 590/QĐ-CSĐT, trưng cầu phòng K Công an tỉnh T giám định pháo nổ đối với các đồ vật phát hiện, thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Ánh .
Bản kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu vật trong 01 (một) thùng xốp kích thước (60x45x35) cm:
- 20 (hai mươi) vật, mỗi vật có chiều cao 13 cm, đường kính rộng nhất 9 cm, được gắn sợi dây ngòi màu xanh của thùng xốp niêm phong gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 7,96kg (bảy phẩy chín sáu ki lô gam).
- Mẫu vật trong 01 (một) thùng xốp kích thước (37x34x50) cm, ký hiệu K:
- Các hạt màu đen dạng hình vỏ trấu trong túi nilon màu trắng ký hiệu số 1 của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định tìm thấy thành phần KNO3, không phải thuốc pháo, có thể sử dụng để làm thuốc pháo. Tổng khối lượng các hạt màu đen trên là 2,16kg (hai phẩy mười sáu ki lô gam).
- Chất bột màu xám trong túi nilon màu trắng ký hiệu số 2 của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định là bột nhôm, có thể sử dụng để làm thuốc pháo - không thuộc tiền chất thuốc nổ. Tổng khối lượng chất bột màu xám trên là 0,4kg (không phẩy bốn ki lô gam).
- Các hạt hình cầu màu đen, kích thước không đều nhau có đường kính từ (0,8 - 01) cm trong túi nilon màu trắng ký hiệu số 3 của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định thấy thành phần Barium Perchlorate - có công thức hóa học BaClO4, không phải thuốc pháo, có thể sử dụng để làm thuốc pháo. Tổng khối lượng các hạt hình cầu màu đen trên là 2,58kg (hai phẩy năm tám ki lô gam).
- Chất bột màu trắng trong túi nilon màu trắng ký hiệu số 4 của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định là Barium P - có công thức hóa học BaClO4, tiền chất thuốc nổ, có thể sử dụng để làm thuốc pháo. Tổng khối lượng chất bột màu trắng trên là 01kg (một ki lô gam).
- Các sợi dây màu xanh, đỏ, trắng kích thước khác nhau của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định là dây truyền lửa, có thể sử dụng để làm ngòi pháo, không phải là dây cháy chậm. Tổng khối lượng các sợi dây trên là 0,1kg (không phẩy một ki lô gam).
- 01 cuộn dây màu đỏ bên trong có các sợi dây màu xám của thùng xốp niêm phong, ký hiệu K gửi đến giám định là dây truyền lửa, có thể sử dụng để làm ngòi pháo, không phải là dây cháy chậm. Tổng khối lượng 01 cuộn dây trên là 0,6kg (không phẩy sáu ki lô gam).
Như vậy tổng khối lượng pháo nổ mà Lê Thị Á đã sản xuất, chế tạo là 7,96kg (bảy phẩy chín sáu kilôgam).
Tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
Đối với nguồn gốc số linh kiện chế tạo pháo được Lê Thị Á sử dụng để sản xuất, chế tạo pháo nổ, Á khai báo là do Á đặt mua của một người lạ trên mạng xã hội facebook. Ánh không biết nhân thân lai lịch, không nhớ đặc điểm nhận dạng và không nhớ chính xác thời gian mua các linh kiện của người này. Vì vậy không có căn cứ để xác định và xử lý đối với người cung cấp nguyên, vật liệu cho Lê Thị Á thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán pháo nổ. Hội đồng xét xử không xét.
Về vật vật chứng của vụ án:
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (60 x 45 x 35) cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong 19 (mười chín) quả pháo nổ.
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (37x34x50) cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong các vật chứng sau:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 1, bên trong có chứa các hạt dạng vỏ trấu có dính hỗn hợp chất màu đen có khối lượng là 2,16kg (hai phẩy mười sáu kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 2, bên trong có chứa chất bột màu xám có khối lượng là 0,4kg (không phẩy bốn kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 3, bên trong có chứa các hạt hình cầu màu đen có khối lượng là 2,58kg (hai phẩy năm tám kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 4, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 01kg (một kilogam).
- + Các sợi dây màu xanh, đỏ, trắng kich thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,1kg (không phẩy một kilogam).
- + 01 (một) cuộn dây màu đỏ bên trong có các sợi dây màu xám có khối lượng là 0,6kg (không phẩy sáu kilogam).
- 02 (hai) cuộn băng dán lụa màu trắng đã qua sử dụng;
- 19 (mười chín) phễu giấy hình nón cụt bằng nhau, đường kính đáy nón là 04 cm, đường kính miệng nón là 09 cm.
- 38 (ba mươi tám) bán cầu rỗng bằng giấy bằng nhau, đường kính 09 cm.
- 01 (một) con dao rọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng - đen, dài 20 cm.
- 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng, xe cũ đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 07/CT-VKSTX ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, truy tố bị cáo Lê Thị Á về tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Á phạm tội "Sản xuất hàng cấm”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Xử phạt bị cáo: Lê Thị Á từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
* Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị Ánh .
* Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án, gồm:
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (60 x 45 x 35)cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong 19 (mười chín) quả pháo nổ.
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (37x34x50) cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong các vật chứng sau:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 1, bên trong có chứa các hạt dạng vỏ trấu có dính hốn hợp chất màu đen có khối lượng là 2,16kg (hai phẩy mười sáu kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 2, bên trong có chứa chất bột màu xám có khối lượng là 0,4kg (không phẩy bốn kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 3, bên trong có chứa các hạt hình cầu màu đen có khối lượng là 2,58kg (hai phẩy năm tám kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 4, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 01kg (một kilogam).
- + Các sợi dây màu xanh, đỏ, trắng kich thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,1kg (không phẩy một kilogam).
- + 01 (một) cuộn dây màu đỏ bên trong có các sợi dây màu xám có khối lượng là 0,6kg (không phẩy sáu kilogam).
02 (hai) cuộn băng dán lụa màu trắng đã qua sử dụng;
19 (mười chín) phễu giấy hình nón cụt bằng nhau, đường kính đáy nón là 04 cm, đường kính miệng nón là 09 cm.
38 (ba mươi tám) bán cầu rỗng bằng giấy bằng nhau, đường kính 09 cm.
01 (một) con dao rọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng - đen, dài 20 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện phạm tội là 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng, xe cũ đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác.
Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi đó đã thực hiện hợp pháp.
[2]. Về tội danh, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: vì muốn có thêm tiền chi tiêu vào cuối năm nên vào khoảng tháng 7 năm 2024 Lê Thị Á có đặt mua một số linh kiện trên mạng xã hội về để chế tạo pháo nổ để bán. Do sợ bị phát hiện trong nhà có pháo nổ nên khoảng 11 giờ 30 ngày 18/12/2024, Lê Thị Á đã bỏ 20 quả pháo nổ đã chế tạo thành phẩm có khối lượng 7,96 kg (bảy phẩy chín sáu kilôgam) vào thùng xốp để mang đi cất giấu, trên đường đi đã bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ quả tang.
Pháo nổ là mặt hàng bị cấm kinh doanh, sản xuất, lưu hành và sử dụng tại Việt Nam, nên hành vi tự chế tạo pháo nổ của bị cáo Lê Thị Á đã phạm tội “Sản xuất hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc tự chế tạo pháo nổ của bị cáo có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của con người hoặc những thiệt hại
về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự tại địa phương, nhất là vào dịp sắp đón Tết Nguyên Đ, tình hình buôn bán, xản xuất, tàng trữ hàng cấm như pháo nổ và các loại pháo khác diễn ra rất phức tạp. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ngày 10/01/2025 bị cáo đã tự nguyện ủng hộ theo chương trình vận động, hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn xã P, huyện N với số tiền là 1.000.000 đồng; Có xác nhận của UBND xã P, huyện N là trước khi phạm tội, bị cáo chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và các quy định khác tại địa phương; Bị cáo hay đau ốm, chồng bị bệnh nặng chết năm 2008, khi chồng ốm phải vay tiền để chữa bệnh nên hiện tại bị cáo đang nợ nhiều, không có công ăn việc làm ổn định,.... Như vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sau này.
[3] Về hình phạt bổ sung: gia đình bị cáo hiện rất khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (60 x 45 x 35) cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong 19 (mười chín) quả pháo nổ.
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (37x34x50) cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong các vật chứng sau:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 1, bên trong có chứa các hạt dạng vỏ trấu có dính hốn hợp chất màu đen có khối lượng là 2,16kg (hai phẩy mười sáu kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 2, bên trong có chứa chất bột màu xám có khối lượng là 0,4kg (không phẩy bốn kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 3, bên trong có chứa các hạt hình cầu màu đen có khối lượng là 2,58kg (hai phẩy năm tám kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 4, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 01kg (một kilogam).
- + Các sợi dây màu xanh, đỏ, trắng kich thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,1kg (không phẩy một kilogam).
- + 01 (một) cuộn dây màu đỏ bên trong có các sợi dây màu xám có khối lượng là 0,6kg (không phẩy sáu kilogam).
Các vật chứng trên hiện đang được gửi giữ tại kho của BCH quân sự huyện N.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng, gồm:
- 02 (hai) cuộn băng dán lụa màu trắng đã qua sử dụng;
- 19 (mười chín) phễu giấy hình nón cụt bằng nhau, đường kính đáy nón là 04 cm, đường kính miệng nón là 09 cm;
- 38 (ba mươi tám) bán cầu rỗng bằng giấy bằng nhau, đường kính 09 cm;
- 01 (một) con dao rọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng - đen, dài 20 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện phạm tội là 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng, xe cũ đã qua sử dụng.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên VKSND huyện Như Thanh tại phiên toà hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Á phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Xử phạt: bị cáo Lê Thị Á 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Thị Á cho UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Lê Thị Á thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Thị Ánh .
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, gồm:
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (60 x 45 x 35)cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong 19 (mười chín) quả pháo nổ.
- 01 (một) thùng xốp, kích thước (37x34x50)cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký và họ tên Trần Nam G, Trịnh Anh V và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T” được sử dụng niêm phong các vật chứng sau:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 1, bên trong có chứa các hạt dạng vỏ trấu có dính hốn hợp chất màu đen có khối lượng là 2,16kg (hai phẩy mười sáu kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 2, bên trong có chứa chất bột màu xám có khối lượng là 0,4kg (không phẩy bốn kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 3, bên trong có chứa các hạt hình cầu màu đen có khối lượng là 2,58kg (hai phẩy năm tám kilogam).
- + 01 (một) túi nilon màu trắng, ký hiệu số 4, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 01kg (một kilogam).
- + Các sợi dây màu xanh, đỏ, trắng kich thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,1kg (không phẩy một kilogam).
- + 01 (một) cuộn dây màu đỏ bên trong có các sợi dây màu xám có khối lượng là 0,6kg (không phẩy sáu kilogam)
Các vật chứng đang được lưu giữ tại kho của Ban Chỉ huy quân sự huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận đồ vật ngày 23/01/2025 giữa đại diện Ban CHQS huyện N và đại diện Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng, gồm:
- 02 (hai) cuộn băng dán lụa màu trắng đã qua sử dụng.
- 19 (mười chín) phễu giấy hình nón cụt bằng nhau, đường kính đáy nón là 04 cm, đường kính miệng nón là 09 cm.
- 38 (ba mươi tám) bán cầu rỗng bằng giấy bằng nhau, đường kính 09 cm.
- 01 (một) con dao rọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng - đen, dài 20 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện phạm tội là 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng, xe cũ đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06, ngày 22/01/2025 giữa Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh.
* Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thị Á phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND huyện Như Thanh;
- Chi cục THADS huyện Như Thanh;
- Sở Tư pháp tỉnh TH;
- Bị cáo, cơ quan có thẩm quyền khác;
- Lưu: HSVA, VT.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 01/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về hình sự - sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 01/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị A - Sản xuất hàng cấm
