Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-PT

Ngày: 16 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Dương Viết Hải.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn và ông Trần Trung Thành.

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 16 tháng 02 năm 2025, tại phòng xét xử dân sự. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Kinh doanh Thương mại phúc thẩm thụ lý số 09/2024/TLPT-KDTM ngày 15 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, do Bản án sơ thẩm số 01/2024/KDTM - ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 469/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 10 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ: Số A Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An;Đại diện theo pháp luật: Bà Thái H, chức vụ: Tổng Giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty TNHH Q và khai thác tài sản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.

Người được ủy quyền lại: Ông Lê Đức H1, ông Mai Hải T1, ông Mai Văn P, chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng Công ty TNHH Q và khai thác tài sản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ: Số B T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, ông H1 có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình;

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đăng H2, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc, có mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Xuân S, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B trình bày:

Ngày 29/11/2019 Công ty TNHH Đ đã ký kết hợp đồng tín dụng số 423/2019/HĐTD- B1 số tiền 1.450.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày 30/11/2019 đến hết ngày 30/11/2024. Lãi suất cho vay trong hạn khi khởi tạo hợp đồng là: 11%/năm; lãi thay đổi được quy định chi tiết trong hợp đồng tín dụng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán. Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm trên số tiền lãi chậm trả. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô tải tự đổ hiệu MAZ 6501B3.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho Hợp đồng tín dụng nêu trên Công ty TNHH Đ đã thế chấp cho Ngân hàng B1 - chi nhánh Q1 tài sản là: Xe ô tô tải tự đổ, biển số 73C - 106.43, số chỗ ngồi 02, số khung 1B3J0000067, số máy H0051551, năm sản xuất 2018, nhãn hiệu MAZ, Màu đỏ cam (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029242 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 27/11/2019 cho Công ty TNHH Đ), theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng 37/2020/HĐ TP/CC - SCC/HĐ GD ngày 29/11/2019 ký giữa Công ty TNHH Đ với Ngân hàng B1 - Chi nhánh Q1. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngân hàng B1 - chi nhánh Q1 đã giải ngân đủ cho Công ty TNHH Đ, số tiền vay là 1.450.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng) theo khế ước nhận nợ số 01-423/2019 HĐTD-BacABank. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH Đ tính đến ngày 13/9/2022 mới chỉ trả được tổng số tiền 670.438.677 đồng (Trong đó tiền gốc 504.309.000 đồng, tiền lãi 166.129.677 đồng) từ đó đến nay phía bị đơn không trả nữa nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 nên Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 ra Thông báo về việc trả nợ quá hạn đối với nợ gốc còn lại chưa thanh toán kể từ ngày vi phạm 01/6/2022. Đến nay đã quá hạn trả gốc, lãi nhưng Công ty TNHH Đ không thực hiện trả nợ, tính đến ngày 16/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) Công ty TNHH Đ còn nợ Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 số tiền 1.489.537.636 đồng, trong đó nợ gốc quá hạn: 945.691.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 129.164.753 đồng; nợ lãi quá hạn: 374.334.148 đồng và phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng.

Ngân hàng TMCP B đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.489.537.636 đồng, trong đó nợ gốc quá hạn: 945.691.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 129.164.753 đồng; nợ lãi quá hạn: 374.334.148 đồng và phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng. Công ty TNHH Đ còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày trả xong nợ. Trường hợp Công ty TNHH Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP B. Đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty TNHH Đ để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp ô tô số: 423/2019/HĐTC B2.500 ngày 29/11/2019 giữa Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 với Công ty TNHH Đ.

Phía bị đơn Công ty TNHH Đ trình bày: Ngày 29/11/2019 Công ty TNHH Đ có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1, số tiền 1.450.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi suất cho vay trong hạn 11,00%/năm, nợ quá hạn bằng lãi suất 150% trong hạn, kỳ trả nợ gốc 03 tháng lần, trả nợ lãi định kỳ ngày 25 hàng tháng theo hợp đồng tín dụng 423/2019/HĐTD/BacABank ngày 29/11/2019, theo khế ước nhận nợ số: 423/2019/HĐTD/BacABank ngày 29/11/2019, thời hạn cho vay 60 tháng từ ngày 30/11/2019 đến ngày 30/11/2024 (ngày đáo hạn). Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô tải tự đỗ hiệu MAZ 6501B3. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH Đ mới trả tiền gốc là 474 309.000 đồng, tiền lãi 166.129.677 đồng. Đến ngày trả lãi và gốc đã quá hạn, nhưng công ty làm ăn khó khăn bởi ảnh hưởng dịch Covid, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 mặc dù phía Ngân hàng đã ra Thông báo về việc trả nợ quá hạn đối với nợ gốc còn lại chưa thanh toán. Nay Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Đ trả nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.489.537.636 đồng, gồm các khoản nợ như sau: Nợ gốc quá hạn: 945.691.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 129.164.753 đồng, nợ lãi quá hạn: 374.334.148 đồng và phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng, Công ty không có ý kiến gì, chỉ yêu cầu phía Ngân hàng xem xét cho Công ty trả nợ dần theo tháng, mỗi tháng 25.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ gốc, còn tiền lãi yêu cầu phía Ngân hàng giảm bớt một phần nợ lãi cũng như xem xét việc cấp lại giấy phép hoạt động tài sản thế chấp là xe Ô tô nhằm tạo điều kiện Công ty hoạt động, sản xuất kinh doanh để có tiền trả nợ cho Ngân hàng.

Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM - ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy. Căn cứ các điều 117,118, 119, 292, 293, 298, 299, 318, 319, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2, 4 Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B. Buộc Công ty TNHH Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP B, số tiền 1.449.189.901 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi chín triệu, một trăm tám mươi chín ngàn, chín trăm linh một đồng), trong đó nợ gốc 945.691.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 129.164.753 đồng, nợ lãi quá hạn: 374.334.148 đồng. Kế tiếp sau ngày tuyên án sơ thẩm (16/7/2024) bên phải thi hành án tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ số tiền nợ gốc chưa thi hành cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất tại Hợp đồng tín dụng số: 423/2019/HĐTD/BacABank ngày 29/11/2019.
  2. Trong trường hợp Công ty TNHH Đ không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP B thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Xe ô tô tải tự đỗ, nhãn hiệu MAZ, biểm kiểm soát 73C -106.43, số khung 1B31 0000067, số máy H0051551, năm sản xuất 2018 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 029242 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 27 tháng 11 năm 2019 cho Công ty TNHH Đ, theo Hợp đồng thế chấp số: 423/2019/HĐTC - B2.500 ngày 29/11/2019.
  1. Không chấp một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B với số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng phần nghĩa vụ của bị đơn trong vụ án là Công ty TNHH Đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án dân sự.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, bị đơn Công ty TNHH Đ kháng cáo yêu cầu sửa Bản án Kinh doanh Thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM - ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy. Đề nghị Tòa án giải quyết miễn giảm toàn bộ phần lãi mà phía Ngân hàng TMCP B đã yêu cầu khởi kiện. Đề nghị phía Ngân hàng TMCP B cấp lại giấy đi đường cho phía Công ty TNHH Đ để tạo nguồn thu nhập nhằm trả nợ cho Ngân hàng.

Ngày 13/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy nhận được đơn kháng cáo không ghi ngày tháng của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (B3). Xét thấy việc kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 27/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số 02/2024/QĐ-PT. Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B đối với Bản án Kinh doanh Thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-SST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy.

Tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP B rút một phần yêu cầu khởi kiện, về yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Đ phải thanh toán phần phạt chậm trả lãi trong hạn là 40.347.735 đồng; bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của các đương sự tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 299, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện, về yêu cầu lãi chậm trả của nguyên đơn Ngân hàng. Sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên không chính xác liên quan lãi suất phải chịu sau khi xét xử sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 và sửa phần án phí sơ thẩm do tính không chính xác theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ được Tòa án nhận ngày 24/7/2024 là đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn, hình thức, nội dung kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các Điều 271, 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của Bị đơn được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm. Đối với kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B là kháng cáo quá hạn và không được Tòa án chấp nhận kháng cáo quá hạn, nên kháng cáo của nguyên đơn không được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét ý kiến của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B tại phiên tòa phúc thẩm rút một phần yêu cầu khởi kiện, về yêu cầu bị đơn phải thanh toán phần phạt chậm trả lãi trong hạn, số tiền 40.347.735 đồng thấy: Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật và bị đơn Công ty TNHH Đ đồng ý nên cần chấp nhận. Căn cứ Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về yêu cầu bị đơn phải thanh toán phần phạt chậm trả lãi trong hạn, số tiền 40.347.735 đồng.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Xét hợp đồng tín dụng số 423/2019/HĐTD- B4 ngày 29/11/2019 được ký kết giữa Ngân hàng T2 - Chi nhánh Q1 (viết tắt Ngân hàng TMCP B) và Công ty TNHH Đ (viết tắt Công ty TNHH Đ) do người có thẩm quyền của hai bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích, hình thức, nội dung tuân theo các quy định tại Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 116, 117,118, 119 Bộ luật dân sự nên có hiệu lực thi hành, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia ký kết. Các bên giao kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự. Sau khi ký kết Hợp đồng Ngân hàng TMCP B đã giải ngân cho Công ty TNHH Đ, số tiền 1.450.000.000 đồng và Công ty TNHH Đ đã nhận đủ số tiền 1.450.000.000 đồng. Đến ngày 13/9/2022 Công ty TNHH Đ đã thanh toán tổng số tiền 670.000.000 đồng (trong đó tiền gốc 504.309.000 đồng, tiền lãi 166.129.667 đồng). Từ ngày 13/9/2022 đến nay Công ty TNHH Đ không thực hiện trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng dẫn đến khoản vay nợ đã chuyển sang nợ quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B, số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024) là 1.489.537.636 đồng, trong đó số tiền gốc là 945.691.000 đồng, số tiền lãi trong hạn 129.164.753 đồng, số tiền lãi quá hạn 374.334.148 đồng, số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng và thanh toán số tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP B và Công ty TNHH Đ từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày Công ty

TNHH Đ thanh toán xong khoản nợ vay cho Ngân hàng TMCP B là có căn cứ. Việc tính lãi của Ngân hàng TMCP B là phù hợp với Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, không vượt quá quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không chấp nhận số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng mà Ngân hàng TMCP B yêu cầu là không đúng, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng TMCP B rút yêu cầu đối với số tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 40.347.735 đồng và được bị đơn đồng ý nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận để đình chỉ.

Xét Hợp đồng thế chấp số 423/2019/HĐTC-BacABank.500 ngày 29/11/2019 giữa bên thế chấp Công ty TNHH Đ và bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP B để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho Công ty TNHH Đ vay tiền tại Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng tín dụng mà Công ty TNHH Đ ký kết với Ngân hàng TMCP B do người có thẩm quyền của hai bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích, hình thức, nội dung được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật dân sự nên có hiệu lực thi hành, các bên giao kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại Hợp đồng tín dụng để phát sinh nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thế chấp theo quy định tại Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 299, 301, 303, 304, 307 Bộ luật dân sự. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm của Ngân hàng TMCP B là có căn cứ cần chấp nhận.

Ngoài ra, tại phần Quyết định của Bản án Kinh doanh Thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM - ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã tuyên án phí sơ thẩm không đúng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và tuyên lãi suất sau ngày tuyên án sơ thẩm không đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019, nên cần tuyên sửa phần án phí sơ thẩm.

Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ. Đình chỉ phần yêu cầu bị đơn phải thanh toán phần phạt chậm trả lãi trong hạn là 40.347.735 đồng. Sửa Bản án Kinh doanh Thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy về phần án phí KDTM sơ thẩm và phần tuyên lãi suất sau ngày tuyên án sơ thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu án phí KDTM phúc thẩm theo Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

[5] Về án phí sơ thẩm: Sửa phần án phí sơ thẩm và phần tuyên lãi suất sau khi xét xử sơ thẩm.

Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 299, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm b khoản 3 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 118, 119, 299, 301, 303, 304, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024: Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B, về yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Đ phải thanh toán phần phạt chậm trả lãi trong hạn, với số tiền là 40.347.735 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B. Buộc Công ty TNHH Đ thanh toán khoản nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024), số tiền 1.449.189.901 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi chín triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm linh một đồng), trong đó số tiền gốc là 945.691.000 đồng, số tiền lãi trong hạn 129.164.753 đồng, số tiền lãi quá hạn 374.334.148 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024) cho đến khi thi hành án xong Công ty TNHH Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 423/2019/HĐTD/Bac A ngày 29/11/2019. Trường hợp Công ty TNHH Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền chủ động hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 423/2019/HĐTC - Bac A ngày 29/11/2019 được ký kết giữa bên thế chấp Công ty TNHH Đ và bên nhận thế chấp Ngân hàng Thương mại Cổ phần B để thu hồi nợ.
  3. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ về việc miễn giảm toàn bộ phần lãi 503.498.901 đồng (số tiền lãi trong hạn 129.164.753 đồng, số tiền lãi quá hạn 374.334.148 đồng) và việc đề nghị phía Ngân hàng TMCP B cấp lại giấy đi đường cho phía Công ty TNHH Đ.
  4. Về án phí sơ thẩm: Sửa phần án phí sơ thẩm của Bản án Kinh doanh Thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-SST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Buộc Công ty TNHH Đ phải chịu 55.475.697 đồng (Năm mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng) án phí sơ thẩm Kinh doanh thương mại để nộp ngân sách nhà nước.

Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần B phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí sơ thẩm KDTM nhưng được trừ vào số tiền 27.715.459 đồng Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B, số tiền 24.715.459 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004348 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

  1. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn Công ty TNHH Đ phải chịu 2.000.000 đồng án phí phúc thẩm KDTM. Công ty TNHH Đ đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004439 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Số tiền còn lại phải nộp 1.700.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - TAND thành phố Đồng Hới:
  • - TACC tại Đà Nẵng;
  • - VKSCC tại Đà Năng;
  • - Chi cục THADS H. Lệ Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Viết Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-PT ngày 16/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger