TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 01/2025/DS-ST Ngày: 14 – 02 – 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do– Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Giới
- Ông Giang Công Chiến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký
Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa:
Ông Đoàn Lương Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 175/2024/TLST- DS ngày 10/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXX - DS ngày 23/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đồng Quảng T, sinh năm 1963 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ B, Khu phố T, Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1974 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố T, Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hà Quang D, sinh năm 1973 (Có yêu cầu vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố T, Thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn Đồng Q trình bày:
Vào ngày 15/7/2020 ông T có cho bà Lê Thị H vay số tiền 40.000.000₫, mục đích vay tiền là để làm ăn, 2 bên có làm giấy viết tay, thoả thuận lãi suất 2,5%/tháng, bà H cam kết mỗi tháng trả 4.000.000đ, tuy nhiên đến ngày
02/01/2023 do bà H có nhu cầu vay thêm 10.000.000đ nhưng do bà H chưa trả khoản vay 40.000.000đ nên ông T có yêu cầu bà H viết lại giấy biên nhận nợ xác nhận khoản vay 40.000.000₫ vào ngày 02/01/2023 thì bà H đồng ý.
Từ thời điểm vay 15/7/2020 đến nay, bà H có trả cho ông T được 1 vài lần nhưng số tiền cụ thể và thời gian thì ông T không nhớ, tuy nhiên khi viết lại giấy vay ngày 02/01/2023 thì bà H mặc nhiên thừa nhận số tiền bà H đã trả là tiền lãi của khoản vay và đồng ý xác nhận lại khoản vay 40.000.000đ và cam kết sẽ trả nợ vào ngày 28 hàng tháng tuy nhiên đến nay bà H không thực hiện theo đúng cam kết.
Do bà H vay tiền nhằm mục đích kinh doanh, phục vụ nhu cầu của gia đình nên nay ông T khởi kiện yêu cầu bà H và chồng bà H là ông Hà Quang D có nghĩa vụ trả ông T số tiền 40.000.000đ tiền gốc. Đồng thời tại phiên toà, ông T bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà H, ông D có nghĩa vụ phải trả tiền lãi cho ông T, thời gian yêu cầu tính lãi từ ngày 15/7/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền 37.000.000đ. Tổng số tiền ông T yêu cầu bà H và ông D có trách nhiệm trả là 77.000.000₫.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn Lê Thị H trình bày:
Bà H xác định bà H có vay của ông T số tiền 40.000.000đ vào năm 2020 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), khi vay 2 bên có làm giấy tay, mục đích vay tiền là để buôn bán, thời hạn vay là 01 năm, tuy nhiên khi đến hạn do không có đủ khả năng trả nợ nên bà H và ông T thống nhất gia hạn thời hạn trả nợ; 2 bên không thoả thuận lãi suất. Tại thời điểm vay thì bà H không thế chấp tài sản gì cho ông T, đồng thời việc vay tiền của ông T thì ông D không biết và cũng không liên quan. Ngoài số tiền vay 40.000.000đ vào năm 2020 thì bà H không vay của ông T khoản vay nào khác.
Từ thời điểm vay đến nay, bà H đã đã nhiều lần chuyển tiền cho ông T với số tiền trên 40.000.000đ, bà H có nộp kèm theo phiếu thu và giấy nộp tiền cho Toà án. Bà H xác định bà H đã trả nợ xong cho ông T nên bà H không đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T. Đối với số tiền bà H đã trả cho ông T nếu có dư bà H cũng không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết lại.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Quang D trình bày:
Ông D không vay tiền hay bất kỳ tài sản nào của ông Đồng Quảng T nên ông D không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Đồng thời, ông D yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Quảng T về việc yêu cầu bà Lê Thị H và ông Lê Quang D1 có nghĩa vụ phải trả cho ông T tổng số tiền 40.000.000đ, không xem xét đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc ông T yêu cầu bà H và ông D1 có nghĩa vụ trả cho ông T 37.000.000đ tiền lãi do vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ông Đồng Quảng T khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H và ông Hà Quang D có trách nhiệm trả cho ông T số tiền đã vay, bà H và ông D có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Hà Quang D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 1 và có yêu cầu vắng mặt. Do đó, căn cứ căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
- Đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc: Căn cứ vào Giấy mượn tiền do ông Đồng Quảng T giao nộp và phần trình bày của ông T thể hiện: Do có mối quan hệ quen biết nên 15/7/2020, ông T có cho bà Lê Thị H vay số tiền 40.000.000đ, 2 bên có làm giấy viết tay, bà H có ký xác nhận nội dung Giấy vay, 2 bên thoả thuận lãi suất 2,5%/tháng, bà H có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 4.000.000đ/tháng. Tuy nhiên, đến ngày 02/01/2023 do bà H có nhu cầu vay thêm 10.000.000đ nhưng do bà H chưa trả khoản vay 40.000.000đ nên ông T có yêu cầu bà H viết lại giấy biên nhận nợ xác nhận khoản vay 40.000.000đ vào
ngày 02/01/2023 thì bà H đồng ý. Từ thời điểm vay 15/7/2020 đến nay, bà H có trả cho ông T được 1 vài lần nhưng số tiền cụ thể và thời gian thì ông T không nhớ, tuy nhiên khi viết lại giấy vay ngày 02/01/2023 thì bà H mặc nhiên thừa nhận số tiền bà H đã trả là tiền lãi của khoản vay, đồng ý xác nhận lại khoản vay 40.000.000đ và cam kết sẽ trả nợ vào ngày 28 hàng tháng tuy nhiên đến nay bà H không thực hiện theo đúng cam kết nên ông T khởi kiện yêu cầu bà H và ông D có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền gốc đã vay là 40.000.000đ.
Bị đơn Lê Thị H thừa nhận vào năm 2020 có vay của ông T số tiền 40.000.000đ, khi vay 2 bên có làm giấy tay, mục đích vay tiền là để buôn bán, thời hạn vay là 01 năm. Đến ngày 02/01/2023, ông T và bà H lập lại 01 Giấy với nội dung bà H cam kết trả cho ông T khoản nợ cũ 40.000.000₫ năm 2020 vào ngày 28 hàng tháng, bà H có tự nguyện ký tên xác nhận. Do đó, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bà H xác định đối với khoản vay 40.000.000đ đến nay bà H đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho ông T, mục đích ghi lại Giấy vay vào ngày 02/01/2023 là do thời điểm đó bà H chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho ông T, nên ông T yêu cầu viết lại giấy vay mới và sẽ huỷ giấy cũ, nếu không thì ông T sẽ khởi kiện nên bà H đồng ý. Do xác định đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho ông T theo nội dung Giấy vay tiền nên bà H không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà H xác định ngoài khoản vay 40.000.000₫ ngày 15/7/2020 thì bà H không vay ông T thêm khoản vay nào khác. Ông T thừa nhận bà H có trả tiền cho ông T nhưng mục đích bà H chuyển khoản là để trả nợ cho những khoản vay trước đó. Toà án thông báo yêu cầu ông Thẩm cung C tài liệu, chứng cứ về việc ông T có cho bà H vay nhiều khoản vay ngoài khoản vay 40.000.000₫ ngày 15/7/2020 và mục đích chuyển tiền của những sao kê, chứng từ bà H giao nộp là để trả cho ông T đối với những khoản vay trên. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho ý kiến của mình. Đồng thời, tại phiên toà ông T cũng thừa nhận thời điểm bà H xác nhận vào Giấy mượn tiền ngày 15/7/2020 thì bà H không còn nợ ông T khoản tiền nào. Căn cứ vào phiếu sao kê của tài liệu, chứng cứ do bà H giao nộp, Ngân hàng cung cấp và tại phiên toà ông T thừa nhận, thể hiện từ thời điểm vay tiền ngày 15/7/2020 đến nay, bà H đã chuyển khoản cho ông T tổng số tiền 48.000.000đ.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định số tiền 48.000.000₫ bà H chuyển khoản vào số tài khoản 5602215008516 đứng tên Đồng Quảng T tại
Ngân hàng N (thời gian từ ngày 31/8/2020 đến ngày 21/6/2023) mục đích là để trả cho khoản vay số tiền 40.000.000đ ngày 15/7/2020 nên yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu bà H trả số tiền nợ gốc 40.000.000đ là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu về tiền lãi: Theo đơn khởi kiện và trong quá trình hoà giải, ông T không yêu cầu bà H, ông D có nghĩa vụ trả tiền lãi, tại phiên toà ông T bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà H, ông D có nghĩa vụ phải trả tiền lãi cho ông T, thời gian yêu cầu tính lãi từ ngày 15/7/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 14/02/2025 với mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền 37.000.000đ.
Khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự quy định : “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”. Ngoài ra tại mục 7, Phần IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC của TANDTC ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án có hướng dẫn: “... Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải...”. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T tại phiên toà về việc yêu cầu bà H, ông D có trách nhiệm trả tiền lãi là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét, ông T có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Đối với số tiền 8.000.000₫ sau khi trừ số tiền nợ gốc bà H trả cho ông T: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của ông T không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định, tuy nhiên do ông T là người cao tuổi nên ông T được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng số tiền 2.000.000đ theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[4] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Quảng T về việc yêu cầu bà Lê Thị H và ông Hà Quang D phải trả số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
- Về án phí: Ông Đồng Quảng T được miễn nộp 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 01/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đồng Quảng T khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H trả số tiền đã vay
