|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HC-PT
Ngày 07-02-2025
V/v: Khiếu kiện hành vi hành chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức;
- Ông Phạm Văn Ngọt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 02/2024/TLPT-HC ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2024/HC-ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 131/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Người khởi kiện:
- Ông Phạm Trung T, sinh năm 1992;
- Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D: Luật sư Lê Tấn D1 - Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
- - Người bị kiện:
- Chi cục Thuế huyện B.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn L - Chức vụ: Chi cục Trưởng Chi cục Thuế huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông L (Theo Quyết định ủy quyền số 15/QĐ – CCT ngày 05/3/2024): Ông Trần Văn T1 - Chức vụ: Phó Chi cục Trưởng Chi cục Thuế huyện B, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
- - Người kháng cáo: Ông Phạm Trung T, là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2023 và trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Bà Võ Thị T2 lúc còn sống có nộp hồ sơ chuyển mục đích sử dụng phần đất cây lâu năm diện tích 999,9m² thuộc thửa 441, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã B, huyện B sang đất ở nông thôn theo Quyết định số 589/QĐ – UBND ngày 19/01/2017, hồ sơ số 00175CM. Ngày 23/01/2017, Chi cục Thuế huyện B có ban hành Văn bản số 465/TB – CCT về việc Thông báo nộp tiền sử dụng đất để yêu cầu bà Võ Thị T2 nộp tiền sử dụng đất với số tiền 246.585.900 đồng. Đến ngày 19/02/2020, bà Võ Thị T2 đã nộp một phần tiền sử dụng đất với số tiền 50.000.000 đồng, còn nợ tiền sử dụng đất 196.585.900 đồng.
Ngày 10/9/2020, bà Võ Thị T2 qua đời với lý do tai nạn giao thông. Đến ngày 23/02/2022, ông T mới biết sự việc bà Võ Thị T2 có nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất và còn nợ lại tiền sử dụng đất là 196.585.900 đồng nên có liên hệ với Chi cục Thuế huyện B đóng tiếp số tiền còn nợ, nhưng không được Chi cục Thuế huyện B chấp nhận với lý do đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất thì phải thanh toàn số tiền còn nợ theo chính sách và giá đất thời điểm trả nợ, số tiền phải đóng lớn hơn.
Tuy nhiên, do bà Võ Thị T2 bất ngờ qua đời ngày 10/9/2020 là lý do bất khả kháng, ông T không hề hay biết sự việc bà Võ Thị T2 nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất và thời điểm năm 2021 tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Ông T đã rất nhiều lần có đơn xin nộp thuế trong thời hạn thay cho bà Võ Thị T2 nhưng phía Chi cục T không đồng ý cho ông T nộp.
Nay, ông Phạm Trung T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chi cục Thuế huyện B thực hiện hành vi hành chính ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền 196.585.900 (Một trăm chín mươi sáu triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm) đồng và cho gia hạn nộp thuế để những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Võ Thị T2 tiếp tục đóng tiền sử dụng đất để hoàn thành hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông T có yêu cầu Chi cục Thuế làm sai thì phải bồi thường thiệt hại.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện trình bày:
Ngày 20/01/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B gửi phiếu chuyển thông tin địa chính số 184/PCTT – VP đến Chi cục Thuế huyện B xác định nghĩa vụ tài chính của bà Võ Thị T2 có nội dung như sau:
Thông tin thửa đất số 441, tờ bản đồ số 25 địa chỉ tại xã B, huyện B; Loại đường/khu vực: Đường T; Diện tích thửa đất 999,9m2 ; Diện tích phải nộp tiền sử dụng đất do chuyển mục đích do chuyển mục đích sử dụng đất từ trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn 999,9m2 (trong đó 300m2 nằm trong hạn mức và 699,9m2 năm ngoài hạn mức). Dựa vào hồ sơ kèm theo tại phiếu chuyển thông tin địa chính số 184/PCTT – VP ngày 23/01/2017 Chi cục Thuế huyện B xác định tiền sử dụng đất và ban hành Thông báo số 464/TB – CCT về việc nộp lệ phí trước bạ nhà, đất đối với số tiền phải nộp là 1.232.900 đồng và Thông báo số 465/TB – CCT về việc nộp tiền sử dụng đất với số tiền phải nộp là 246.585.900 đồng.
Ngày 03/02/2017, bà Võ Thị T2 đã nộp lệ phí trước bạ 1.232.900 đồng theo Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước số 0980747. Đối với tiền sử dụng đất bà T2 có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất gửi đến UBND huyện B và đã được chấp nhận ghi nợ số tiền 246.585.900 đồng (theo Giấy xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 151536 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH03719 do UBND huyện B cấp ngày 14/01/2015), theo đó, bà T2 được ghi nợ số tiền sử dụng đất là 246.585.900 đồng trong thời hạn 05 năm tính từ ngày 23/01/2017, tức thời hạn nộp tiền sử dụng đất 246.585.900 đồng chậm nhất là ngày 23/01/2022, sau thời gian này số tiền sử dụng đất được tính lại theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ.
Đến ngày 19/02/2020, bà T2 đã nộp số tiền 50.000.000 đồng nợ tiền sử dụng đất theo Thông báo số 18/TB – CCT ngày 19/02/2020 của Chi cục T, Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước số 1152596, số tiền còn nợ là 196.585.900 đồng. Ngày 10/9/2020, bà T2 chết do tai nạn giao thông theo trích lục khai tử số 396/TLKT – BS ngày 22/9/2020 của UBND thị trấn B.
Trong tháng 02/2022, ông Phạm Trung T (con ruột bà T2) có đến liên hệ với Chi cục Thuế huyện B xin nộp số tiền sử dụng đất còn nợ là 196.585.900 đồng. Chi cục T3 có giải thích nếu nộp vào thời điểm này thì số nợ tiền sử dụng đất được tính theo giá hiện tại (cao hơn 196.585.900 đồng) theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định 79/2019/NĐ – CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ.
Ngày 03/3/2022, Chi cục T có nhận được đơn xin xem xét nộp tiền sử dụng đất của ông Phạm Trung T (đơn đề ngày 02/3/2022) với nội dung xin nộp tiền sử dụng đất với số tiền 196.585.900 đồng, ông T cho rằng ông không biết việc mẹ ông lúc còn sống có nợ tiền sử dụng đất, đến khi ông biết thì thờ điểm nợ tiền sử dụng đất của mẹ ông theo quy định được tính theo giá mới là cao hơn nên ông xin nộp tiền sử dụng đất theo giá cũ là 196.585.900 đồng nhưng không được chấp nhận và được trả lời bằng Công văn số 983/CTBTR – HKDCN ngày 07/4/2022 của Cục Thuế tỉnh B và Công văn số 243/CCT – NVQLT ngày 21/4/2022 của Chi cục Thuế huyện B.
Ngày 13/5/2022, ông T có đơn (đơn ghi ngày 09/5/2022) xin xem xét gửi Cục Thuế tỉnh B về việc phúc đáp của Cục Thuế tỉnh B chưa đúng với nguyện vọng của đơn xin gia hạn thời gian nộp tiền sử dụng đất với nội dung ông muốn “Cục Thuế tỉnh B trả lời chính xác trường hợp mẹ tôi bị tai nạn bất ngờ mà qua đời có được xem xét gia hạn thời gian nộp tiền sử dụng đất hay không?”. Ngày 02/6/2022, Cục T đã phúc đáp bằng Công văn số 1603/CTBTR – HKDCN về việc gia hạn thời gian nộp tiền sử dụng đất còn nợ với nội dung: “Trường hợp bà Võ Thị T2 chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất theo quy định thì người nhận thừa kế quyền sử dụng đất của bà Võ Thị T2 có trách nhiệm tiếp tục trả nợ tiền sử dụng đất, trường hợp quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất thì phải thanh toán số tiền còn nợ theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định số 79/2019/NĐ – CP”.
Đồng thời, căn cứ vào nội dung đơn có ghi: “Tôi là con bà Võ Thị T2 nhưng chưa phải là người thừa kế thửa đất trên nên không thể yêu cầu tôi phải là người nộp tiền sử dụng đất nói trên» và các quy định nêu trên, thì ông Phạm Trung T chưa phải là người thừa kế quyền sử dụng đất của bà Võ Thị T2 theo quy định của pháp luật thì không có trách nhiệm tiếp tục trả nợ tiền sử dụng đất”.
Ngày 14/7/2022, Chi cục T tiếp tục nhận được đơn (đơn ghi ngày 13/7/2022) xin xét nộp tiền sử dụng đất của ông T với 03 nội dung tóm tắt yêu cầu như sau: Nộp tiền thuế ghi nợ với số tiền 196.585.900 đồng trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Chi cục Thuế đồng ý; Ông T không đồng ý với Công văn số 983/CTBTR – HKDCN ngày 07/4/2022 của Cục Thuế tỉnh B và Công văn số 243/CCT – NVQLT ngày 21/4/2022 của Chi cục Thuế huyện B và nếu Chi cục Thuế không đồng ý thì xin trả lời bằng quyết định cụ thể. Ngày 15/7/2022, Chi cục T đã mời ông T đến trụ sở để trao đổi và phúc đáp bằng Công văn số 419/CCT – NVQLT ngày 15/7/2022 về việc trả lời đơn xét nộp tiền sử dụng đất với nội dung: “Đến thời điểm này, cơ quan thuế đã phúc đáp cho ông Phạm Trung T bằng 03 văn bản, trả lời những vướng mắc của ông về việc xin gia hạn thời gian nộp tiền sử dụng đất. Đề nghị ông căn cứ vào nội dung 03 văn bản trên tiến hành thực hiện nghĩa vụ; T4 hợp ông Phạm Trung T không hài lòng với nội dung phúc đáp của Chi cục Thuế huyện B và Cục Thuế tỉnh B thì được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật hiện hành”.
Ngày 22/7/2022, Chi cục T tiếp tục nhận được đơn (đơn ghi ngày 21/7/2022) xin nộp tiền sử dụng đất của ông T số tiền 196.585.900 đồng. Chi cục T đã có Công văn số 450/CCT – NVQLT ngày 28/7/2022 về việc trả lời đơn xin nộp tiền sử dụng đất với nội dung đề nghị ông T căn cứ vào nội dung Công văn số 419/CCT – NVQLT đã phúc đáp trước đó để thực hiện.
Ngày 12/01/2023, Chi cục T có nhận được văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế của ông T (Văn bản ghi ngày 26/12/2022 do Cục Thuế tỉnh B chuyển đến theo phiếu chuyển số 87/PC – CTBTR ngày 12/01/2023), mục đích là xin được giải quyết nộp tiền sử dụng đất số tiền là 196.585.900 đồng. Chi cục T đã có Thông báo số 26/TB – CCT ngày 17/01/2023 về việc không chấp thuận gia hạn nộp thuế.
Căn cứ Nghị định 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (điểm b khoản 1 Điều 2): Đây là căn cứ để bác yêu cầu của người khởi kiện yêu cầu Chi cục Thuế huyện B ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền là 196.585.900 đồng.
Căn cứ Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 (điểm a khoản 1 Điều 62), Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6 (khoản 11 Điều 3, điểm a khoản 3 Điều 24): Đây là căn cứ để xác định người khởi kiện không bị thiệt hại vật chất nên không thuộc trường hợp được gia hạn nộp thuế.
1. Về ý kiến về yêu cầu thứ nhất của người khởi kiện, người khởi kiện yêu cầu Chi cục Thuế huyện B ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền là 196.585.900 (Một trăm chín mươi sáu triệu năm trăm tám mươi lăm ngàn chín trăm) đồng.
Ý kiến của người bị kiện, Chi cục Thuế huyện B không đồng ý ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền là 196.585.900 (Một trăm chín mươi sáu triệu năm trăm tám mươi lăm ngàn chín trăm) đồng mà chỉ đồng ý ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất còn nợ theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ (căn cứ pháp lý được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất). Nếu bên khởi kiện cho rằng Chi cục Thuế huyện B có trách nhiệm ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền là 196.585.900 đồng thì đề nghị bên khởi kiện đưa ra chứng cứ.
2. Về ý kiến về yêu cầu thứ hai của người khởi kiện, người khởi kiện yêu cầu Chi cục Thuế huyện B cho gia hạn nộp thuế.
Ý kiến của người bị kiện, Chi cục Thuế huyện B không đồng ý gia hạn nộp thuế bởi các lý do sau:
- - Người khởi kiện không bị thiệt hại vật chất nên không đủ điều kiện để được gia hạn hạn nộp thuế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 62 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6 thì “Thiệt hại vật chất” là những tổn thất về tài sản của người nộp thuế tính được bằng tiền như: Máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hóa, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền. Như vậy người khởi kiện không bị tổn thất về tài sản nên không bị thiệt hại vật chất, đương nhiên không đủ điều để được gia hạn hạn nộp thuế. Nếu bên khởi kiện cho rằng đủ điều để được gia hạn hạn nộp thuế thì đề nghị bên khởi kiện đưa ra chứng cứ.
- - Người nộp thuế không bị ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh: theo đơn trình bày của người khởi kiện thì chỉ tạm ngừng kinh doanh trong 8 ngày để gia đình lo điều trị và lo hậu sự cho bà T2, sau đó cơ sở kinh doanh của bà T2 hoạt động bình thường và thực hiện tốt nghĩa vụ thuế cho đến nay (hiện đã chuyển cho em bà T2 là bà Võ Thị T5 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh). Nếu người khởi kiện cho rằng bị bị ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh thì đề nghị bên khởi kiện đưa ra chứng cứ.
- - Khoản 1 Điều 62 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định:
“1. Việc gia hạn nộp thuế được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị thiệt hại vật chất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh.”
Như vậy, việc gia hạn nộp thuế chỉ được xem xét khi bị thiệt hại vật chất đồng thời gây ảnh hưởng hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh, nên người khởi kiện không được gia hạn nộp thuế.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2024/HC-ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ các Điều 3, 30, 31, 116, 204, 206 của Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 27 Điều 3, Điều 62, Điều 69 của Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019;
Căn cứ Điều 1, 4 của Nghị quyết số 94/2019/QH14 ngày 26/11/2019 của Quốc Hội;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 11 Điều 3 của Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6;
Căn cứ Điều 30 của Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là ông Phạm Trung T đối với Chi cục thuế huyện B về việc “Buộc Chi cục Thuế huyện B thực hiện hành vi hành chính ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền 196.585.900 đồng, cho khoanh nợ và cho gia hạn nộp thuế để những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Võ Thị T2 tiếp tục đóng tiền sử dụng đất để hoàn thành hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật."
- Không xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/10/2024, ông Phạm Trung T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày: Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Chi cục Thuế huyện B không ban hành thông báo nộp thuế là không đúng quy định tại Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ. Chi cục Thuế huyện B đã tiếp nhận đơn xin nộp thuế của ông Phạm Trung T và đã có Công văn số 186/CV-CCT ngày 29/03/2022 gửi về Cục Thuế tỉnh B xin cho gia hạn nộp tiền sử dụng đất số tiền là 196.585.900 đồng. Ngoài ra, bà Võ Thị T2 chết là sự kiện bất khả kháng theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6 thuộc trường hợp cho phép được gia hạn và khoanh nợ.
Người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện trình bày: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Trung T; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
- - Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Trung T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, xét kháng cáo của người khởi kiện và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận thấy: .
- Về tố tụng: Toà án cấp sơ thẩm nhận định về thẩm quyền giải quyết vụ án, về đối tượng khởi kiện và thời hiệu khởi kiện đúng quy định pháp luật. Người khởi kiện ông Phạm Trung T có đơn kháng cáo, xét kháng cáo còn trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm hành chính.
- Về nội dung:
Ông Phạm Trung T khởi kiện yêu cầu Chi cục Thuế huyện B, tỉnh Bến Tre thực hiện hành vi hành chính ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền 196.585.900 đồng, cho khoanh nợ và cho gia hạn nộp thuế để những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Võ Thị T2 tiếp tục đóng tiền sử dụng đất để hoàn thành hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với yêu cầu Chi cục Thuế huyện B, tỉnh Bến Tre thực hiện ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số tiền 196.585.900 đồng, cho gia hạn nộp thuế:
Chi cục Thuế huyện B không đồng ý ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền 196.585.900 đồng do xác định đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ nên tiền sử dụng đất còn nợ được tính theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về “ngày ghi nợ”, căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 22 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ về ghi nợ tiền sử dụng đất như sau: “2. Trình tự, thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân: [...] d) Căn cứ Phiếu chuyển thông tin do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông chuyển đến, cơ quan thuế tính và ban hành Thông báo theo quy định để gửi đến hộ gia đình, cá nhân, Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và cơ quan liên quan (nếu cần) trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày ban hành thông báo. Tại Thông báo phải bao gồm các nội dung: d1) Tổng số tiền sử dụng đất hộ gia đình, cá nhân phải nộp. d2) Số tiền sử dụng đất được ghi nợ. d3) Số tiền sử dụng đất không được ghi nợ (nếu có). d4) Thời hạn hộ gia đình, cá nhân phải nộp tiền; gồm: Thời hạn nộp số tiền sử dụng đất không được ghi nợ (nếu có) theo thời hạn quy định của pháp luật về quản lý thuế; Thời hạn nộp số tiền sử dụng đất được ghi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều này.”
Như vậy, thời gian ghi nợ tiền sử dụng đất bắt đầu tính từ ngày ban hành Thông báo về việc ghi nợ tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Căn cứ Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 465/TB-CCT và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số 464/TB-CCT ngày 23/01/2017 của Chi cục Thuế huyện B; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 03719 ngày 14/01/2015 đối với thửa 441; Đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất đề ngày 03/02/2017 của bà Võ Thị T2 thì ngày ghi nợ tiền sử dụng đất của bà T2 số tiền 246.585.900 đồng được tính từ ngày 23/01/2017.
Về việc thanh toán tiền ghi nợ, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ sửa đổi Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất như sau: “1. Hộ gia đình, cá nhân đã được ghi nợ tiền sử dụng đất và giá nhận theo quy định của pháp luật từng thời kỳ mà đến trước ngày nghị định có hiệu lực thi hành mà chưa thanh toán hết nợ tiền sử dụng đất thì thực hiện như sau: b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đã được ghi nợ sử dụng đất từ ngày 01 tháng 3 năm 2016 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thanh toán tiền sử dụng đất còn nợ theo số tiền ghi trên Giấy chứng nhận đã được xác định theo đúng quy định tại Nghị định số 45/2014/NĐ-CP trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất. Quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân phải thanh toán số tiền còn nợ theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ.”
Bà Võ Thị T2 được ghi nợ tiền sử dụng đất số tiền 246.585.900 đồng tính từ ngày 23/01/2017 (là trong thời gian từ ngày 01/3/2016 đến trước ngày Nghị định trên có hiệu lực thi hành) nên bà T2 được tiếp tục thanh toán tiền sử dụng đất còn nợ theo số tiền ghi trên Giấy chứng nhận trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất. Như vậy, thời hạn 05 năm tính từ ngày 23/01/2017 đến ngày 23/01/2022. Ngày 19/02/2020, bà T2 đã nộp số tiền 50.000.000 đồng theo Thông báo số 18/TB – CCT ngày 19/02/2020 của Chi cục Thuế huyện B và Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước số 1152596 nên số tiền nợ còn lại là 196.585.900 đồng.
Ngày 03/3/2022, Chi cục Thuế huyện B nhận được đơn xin xem xét nộp tiền sử dụng đất của ông Phạm Trung T (đơn đề ngày 02/3/2022) với nội dung xin nộp tiền sử dụng đất với số tiền 196.585.900 đồng. Thời điểm này, thời hạn 05 năm (23/01/2017 - 23/01/2022) để thanh toán 196.585.900 đồng tiền sử dụng đất còn nợ lại của bà T2 đã hết.
Về gia hạn nộp thuế, xét bà T2 nợ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước đây là tiền sử dụng đất do chuyển mục đích sử dụng đất từ đất cây lâu năm sang đất ở nông thôn chứ không phải tiền thuế kinh doanh. Căn cứ vào chính sách về gia hạn nộp thuế của Chính phủ từ năm 2020 đến nay không quy định gia hạn nộp thuế đối với tiền sử dụng đất mà chỉ gia hạn nộp thuế đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất, quy định tại các Nghị định số 41/2020/NĐ-CP, Nghị định số 52/2021/NĐ-CP, Nghị định số 34/2022/NĐ-CP, Nghị định số 12/2023/NĐ-CP, Nghị định số 64/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời, việc nộp thuế chuyển mục đích sử dụng đất không quy định thời hạn, người nộp thuế được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ theo giá đã được ghi nợ, nếu sau 05 năm chưa thực hiện thì được tính theo chính sách và giá đất hiện tại tại thời điểm trả nợ. Thêm vào đó, người khởi kiện xác định bà T2 chết do tai nạn bất ngờ gây ra bị thiệt hại vật chất nên thuộc trường hợp gia hạn nộp thuế tại điểm a khoản 1 Điều 62 Luật Quản lý Thuế năm 2019. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1, 2 Điều 3 Luật Quản lý Thuế năm 2019 thì tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước được xác định là các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu, không phải là thuế. Điều 3 Thông tư số 69/2020/TT-BTC ngày 15/7/2020 của Bộ T6 quy định: “1. Tiền thuế bao gồm: các loại thuế theo quy định của pháp luật về thuế; các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (không bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước nộp một lần). Do đó tiền sử dụng đất không thuộc đối tượng áp dụng của Điều 62 Luật Quản lý Thuế năm 2019 về gia hạn nộp thuế. Hơn nữa, căn cứ khoản 11 Điều 3 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6 quy định: “Thiệt hại vật chất” là những tổn thất về tài sản của người nộp thuế tính được bằng tiền như: Máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hóa, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền. Trong vụ việc này, xét tai nạn bất ngờ của bà T2 (tai nạn giao thông) đã gây ra thiệt hại về tính mạng của bà T2, không phát sinh thiệt hại vật chất. Từ các căn cứ trên không đủ điều kiện gia hạn nộp thuế quy định tại điểm a khoản 1 Điều 62 Luật Quản lý Thuế năm 2019 theo yêu cầu của ông T.
Căn cứ theo quy định khoản 6 Điều 1 Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ sửa đổi Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất: “6. Hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất phải nộp đủ tiền sử dụng đất còn nợ, tiền chậm nộp (nếu có) trước khi chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người nhận thừa kế có trách nhiệm tiếp tục trả nợ tiền sử dụng đất theo quy định.”
Ngày 10/9/2020, bà T2 chết do tai nạn giao thông (Trích lục khai tử số 396/TLKT – BS ngày 22/9/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn B). Do đó, người nhận thừa kế quyền sử dụng đất thửa 441 của bà T2 có trách nhiệm tiếp tục trả nợ tiền sử dụng đất theo các quy định về thời hạn nộp như trên. Ông T cho rằng ông không biết việc mẹ ông là bà T2 lúc còn sống có nợ tiền sử dụng đất, đến khi ông biết thì tiền sử dụng đất được tính theo giá mới cao hơn nên ông xin nộp tiền sử dụng đất theo giá cũ là 196.585.900 đồng, tuy nhiên Chi cục Thuế huyện B không đồng ý, ông Tín chỉ trình bày mà không có chứng cứ chứng minh việc bản thân không biết số tiền nợ của bà T2; mặt khác tại thời điểm bà T2 chết đã làm phát sinh quyền thừa kế về tài sản đồng thời phát sinh nghĩa vụ của những người thừa kế trong việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại đối với bên có quyền và căn cứ vào Luật Quản lý Thuế, các nghị định hướng dẫn thi hành thì không quy định trường hợp người nợ thuế chết và quá thời hạn 05 năm tính từ ngày ghi nợ thì được tính theo giá đã ghi nợ. Do đó, căn cứ các quy định viện dẫn nêu trên, số tiền sử dụng đất là 196.585.900 đồng của bà T2 còn nợ đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ tiền sử dụng đất thì những người thừa kế phải thanh toán số tiền còn nợ theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ. Ông T là người thừa kế yêu cầu Chi cục Thuế huyện B phải ra thông báo nộp số tiền sử dụng đất đúng với số tiền còn nợ là 196.585.900 đồng khi đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ là không có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện về việc yêu cầu Chi cục Thuế huyện B ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền ghi nợ là 196.585.900 đồng và cho gia hạn nộp thuế là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
- Đối với yêu cầu cho khoanh nợ:
Căn cứ quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 94/2019/QH14 ngày 26/11/2019 của Quốc hội về phạm vi điều chỉnh như sau: “Nghị quyết này quy định về khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp (sau đây gọi chung là xử lý nợ) đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước, bao gồm tiền thuế, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan phát sinh trước ngày Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành.”
Căn cứ quy định tại Điều 3 Thông tư số 69/2020/TT-BTC ngày 15/7/2020 của Bộ T6 như sau: “1. Tiền thuế bao gồm: các loại thuế theo quy định của pháp luật về thuế; các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (không bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước nộp một lần). 2. Tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp bao gồm: tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của tiền thuế quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Khoanh nợ là việc thực hiện chưa thu nợ tiền thuế, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của người nộp thuế và không tính tiền chậm nộp đối với số nợ tiền thuế được khoanh nợ.”
Căn cứ các quy định nêu trên xác định tiền thuế được khoanh nợ bao gồm tiền thuế và tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp (không bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp một lần, tiền thuê mặt nước nộp một lần và tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp một lần, tiền thuê mặt nước nộp một lần). Số tiền nợ đây là tiền sử dụng đất do chuyển mục đích sử dụng đất nên không thuộc đối tượng được áp dụng các quy định về khoanh nợ tiền thuế, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu cho khoanh nợ của người khởi kiện là có căn cứ.
- Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện chưa xác định được thiệt hại cụ thể để cung cấp cho Tòa án chứng minh yêu cầu của mình; đồng thời, trong toàn quá trình tố tụng tại Tòa án cho đến trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, người khởi kiện không làm đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung về nội dung này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là có căn cứ.
- Đối với yêu cầu Chi cục Thuế huyện B, tỉnh Bến Tre thực hiện ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số tiền 196.585.900 đồng, cho gia hạn nộp thuế:
- Từ những phân tích trên, xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Trung T là không có cơ sở, không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Phạm Trung T phải nộp án phí hành chính phúc thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính,
Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Trung T.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2024/HC-ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ vào các điều 3, 30, 31, 116, 204, 206 của Luật Tố tụng hành chính;
Áp dụng khoản 27 Điều 3, Điều 62, Điều 69 của Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc Hội; Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 94/2019/QH14 ngày 26/11/2019 của Quốc Hội; điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ; khoản 11 Điều 3 của Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ T6; Điều 30 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là ông Phạm Trung T đối với Chi cục thuế huyện B về việc “Buộc Chi cục Thuế huyện B thực hiện hành vi hành chính ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với số tiền 196.585.900 đồng, cho khoanh nợ và cho gia hạn nộp thuế để những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Võ Thị T2 tiếp tục đóng tiền sử dụng đất để hoàn thành hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật."
- Không xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện.
- Về án phí hành chính sơ thẩm:
Buộc ông Phạm Trung T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003301 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ông T đã nộp xong án phí.
- Về án phí hành chính phúc thẩm:
Buộc ông Phạm Trung T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004024 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ông T đã nộp xong án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phận |
14
Bản án số 01/2025/HC-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về khiếu kiện hành vi hành chính
- Số bản án: 01/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khieu kien hanh vi hanh chinh giua Pham Trung T va Chi cuc Thue huyen B
