Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 01/2025/DS-ST

Ngày 05-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hằng.

Ông Nguyễn Văn Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H; nơi cư trú: Số A T, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Trọng A; Giám đốc Công ty L; địa chỉ trụ sở: S L chung cư H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, là người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền số 05/2024/UQ-ĐGAP ngày 23/4/2024); có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn H1; nơi cư trú: Số B Tổ B Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn H và đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Thông qua quan hệ làm ăn kinh doanh trong lĩnh vực mua bán xe máy cũ, ông H có quen biết ông Phạm Văn H1. Ông Phạm Văn H1 có hỏi vay tiền của ông H để làm ăn, ông H đồng ý cho ông H1 vay số tiền cụ thể như sau:

Ông H đã dùng tài khoản cá nhân mở tại Ngân hàng TMCP V (V1), số tài khoản 113818287; chủ tài khoản: TRAN VAN HUNG, chuyển khoản 10 lần cho ông Phạm Văn H1, số tài khoản: 5555886789, mở tại Ngân hàng Q (MB); Chủ tài khoản: PHAM VAN HAU số tiền 335.000.000 đồng, chi tiết:

  • - Ngày 10/7/2023: 60.000.000 đồng
  • - Ngày 03/8/2023: 20.000.000 đồng
  • - Ngày 05/8/2023: 15.000.000 đồng
  • - Ngày 06/8/2023: 20.000.000 đồng
  • - Ngày 07/8/2023: 35.000.000 đồng
  • - Ngày 14/8/2023: 100.000.000 đồng
  • - Ngày 14/9/2023: 30.000.000 đồng
  • - Ngày 02/10/2023: 15.000.000 đồng
  • - Ngày 10/10/2023: 20.000.000 đồng
  • - Ngày 10/10/2023: 20.000.000 đồng

Ngoài ra, ông H đã dùng tài khoản cá nhân mở tại Ngân hàng TMCP N (V2), số tài khoản: 3939465555; Chủ tài khoản: TRAN VAN HUNG, chuyển khoản 02 lần cho ông Phạm Văn H1, số tài khoản: 5555886789, mở tại Ngân hàng Q (MB); Chủ tài khoản: PHAM VAN HAU số tiền 55.000.000 đồng, chi tiết:

  • - Ngày 10/9/2023: 40.000.000 đồng
  • - Ngày 16/9/2023: 15.000.000 đồng

Sau khi hai bên thống nhất chốt nợ với nhau, ông Phạm Văn H1 đã viết các giấy nhận nợ cho ông Trần Văn H với nội dung cụ thể:

  • - Ngày 07/8/2023, ông Phạm Văn H1 có viết giấy với nội dung: Tôi có lấy của anh H 150.000.000 đồng.
  • - Ngày 01/12/2023, ông Phạm Văn H1 viết giấy với nội dung: Tôi có vay của anh Trần Văn H 100.000.000 đồng. Tôi hẹn tuần sau tôi gửi (07/12/2023).
  • - Ngày 12/12/2023, ông Phạm Văn H1 viết giấy với nội dung: Tôi tên là Phạm Văn H1, địa chỉ: Số B Đ, H, Hải Phòng, tôi có vay của anh Trần Văn H 140.000.000 đồng. Hàng tháng gửi anh H 10.000.000 đồng tiền gốc. Sai thì anh H thu tiền gốc về bất cứ lúc nào.

Tổng cộng ông Phạm Văn H1 viết giấy xác nhận vay và còn nợ ông H tổng số tiền 390.000.000 đồng.

Ông H đã nhiều lần gặp trực tiếp và gửi văn bản yêu cầu ông H1 trả tiền nhưng ông H1 không trả. Ngày 12/6/2024, đại diện theo ủy quyền của ông H đã ra Thông báo về việc yêu cầu ông H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn 10 ngày. Ngày 14/6/2024, ông H1 nhận được Thông báo, nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Nay ông H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An buộc ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông H số tiền còn nợ là 390.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả phát sinh cho ông H kể từ ngày 24/6/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất theo quy định tại Bộ luật Dân sự là 10%/năm, tương đương 3.250.000 đồng/tháng.

Tính từ ngày 24/6/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/2/2025 ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông H số tiền lãi là: 07 tháng và 12 ngày, cụ thể: (3.250.000₫ x 7 tháng 12 ngày) = 24.050.000 đồng.

Tổng cộng, ông H1 phải trả nợ cả gốc và lãi là: 390.000.000 đồng + 24.050.000 đồng = 414.050.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được Toà án tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông H1 đều vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H, buộc bị đơn ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông H tổng số tiền gốc và lãi là 414.050.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải nộp 20.562.000 án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

[2] Nguyên đơn ông Trần Văn H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản phát sinh giữa ông H và bị đơn ông Phạm Văn H1; nơi cư trú: Số B tổ B Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định của khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H đề nghị Tòa án buộc ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông H số tiền nợ gốc 390.000.000 đồng.

[3] Căn cứ vào các Giấy nhận nợ ghi ngày 07/8/2023, ông Phạm Văn H1 có viết giấy với nội dung: Tôi có lấy của anh H 150.000.000 đồng. Giấy nhận nợ ngày 01/12/2023, ông Phạm Văn H1 viết giấy với nội dung: Tôi có vay của anh Trần Văn H 100.000.000 đồng, tôi hẹn tuần sau tôi gửi (07/12/2023). Và Giấy nhận nợ ngày 12/12/2023, ông Phạm Văn H1 viết giấy với nội dung: Tôi tên là Phạm Văn H1, địa chỉ: Số B Đ, H, Hải Phòng, tôi có vay của anh Trần Văn H 140.000.000 đồng. Hàng tháng gửi anh H 10.000.000 đồng tiền gốc, sai thì anh H thu tiền gốc về bất cứ lúc nào.

[4] Căn cứ vào Sao kê chi tiết tài khoản của Ngân hàng TMCP Q (MB) đối với chủ tài khoản: 5555886789; họ tên: PHAM VAN HAU từ ngày 10/7/2023 đến ngày 10/10/2023 thể hiện: Chủ tài khoản: TRAN VAN HUNG, chuyển khoản cho ông Phạm Văn H1 12 lần, cụ thể:

[5] Ngày 10/7/2023 chuyển khoản: 60.000.000 đồng; ngày 03/8/2023 chuyển khoản: 20.000.000 đồng; ngày 05/8/2023 chuyển khoản: 15.000.000 đồng; ngày 06/8/2023 chuyển khoản: 20.000.000 đồng; ngày 07/8/2023 chuyển khoản: 35.000.000 đồng; ngày 14/8/2023 chuyển khoản: 100.000.000 đồng; ngày 10/9/2023 chuyển khoản: 40.000.000 đồng; ngày 14/9/2023 chuyển khoản: 30.000.000 đồng; ngày 16/9/2023 chuyển khoản: 15.000.000 đồng; ngày 02/10/2023 chuyển khoản: 15.000.000 đồng; ngày 10/10/2023 chuyển khoản 02 lần, mỗi lần 20.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông H chuyển khoản cho ông H1 là 390.000.000 đồng.

[6] Bị đơn ông Phạm Văn H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do.

[7] Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh

[8] Mặt khác, tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “ 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

[9] Từ những viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, tài liệ chứng cứ do phía nguyên đơn ông Trần Văn H cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được làm cơ sở giải quyết vụ án.

[10] Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Việc bị đơn ông Phạm Văn H1 không trả lại số tiền đã vay cho ông Trần Văn H theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H, buộc bị đơn ông Phạm Văn H1 có trách nhiệm trả nợ cho ông H số tiền nợ gốc là 390.000.000 (Ba trăm chín mươi triệu) đồng.

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn H yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn H1 còn phải thanh toán tiền lãi chậm trả phát sinh cho ông H kể từ ngày 24/6/2024 cho đến khi trả hết nợ với lãi suất theo quy định tại Bộ luật Dân sự.

[11] Căn cứ vào khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

[12] Và theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự: “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Dẫn chiếu đến quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự như sau: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ

[13] Phía nguyên đơn ông H đòi nợ nhiều lần nhưng bị đơn ông H1 không trả. Ngày 12/6/2024, đại diện theo ủy quyền của ông H đã gửi Thông báo về việc yêu cầu ông H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn 10 ngày, ngày 14/6/2024 ông H1 đã nhận được Thông báo tuy nhiên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ông H1 phải trả tiền lãi cho ông H với mức lãi suất là 10%/năm và nghĩa vụ phát sinh trả tiền nợ lãi sẽ tính từ ngày 24/6/2024 như nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ.

[14] Như vậy, ông Phạm Văn H1 phải trả tiền lãi chậm trả phát sinh cho ông H kể từ ngày 24/6/2024 cho đến khi trả hết nợ với lãi suất theo quy định tại Bộ luật Dân sự là 10%/năm, tương đương 3.250.000 đồng/tháng.

[15] Tính từ ngày 24/6/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/2/2025 ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông H số tiền lãi là 07 tháng và 12 ngày, cụ thể: 3.250.000₫ x 7 tháng 12 ngày = 24.050.000 đồng

[16] Tổng cộng, ông H1 phải trả nợ cho ông H cả gốc và lãi là: 390.000.000 đồng + 24.050.000 đồng = 414.050.000 đồng.

[17] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Phạm Văn H1 phải nộp là 20.562.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.750.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 146; khoản 1 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Buộc ông Phạm Văn H1 phải trả cho ông Trần Văn H số tiền tính đến hết ngày 05/02/2025 gồm: Nợ tiền gốc là: 390.000.000 đồng; nợ tiền lãi là: 24.050.000 đồng. Tổng cộng là 414.050.000 (Bốn trăm mười bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí:
    • - Ông Phạm Văn H1 phải nộp 20.562.000 (Hai mươi triệu, năm trăm sáu mươi hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Trả lại cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.750.000 (Chín triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo Biên lai số 0005675 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Nguyên đơn ông Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn ông Phạm Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 01/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger