|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày 04-02-2025
“V/v cản trở quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
- -Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải; Bà Phạm Thị Loan.
- -Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về cản trở quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-HPT ngày 14/01/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Anh Trần Viết T, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định
-Bị đơn: Ông Nguyễn Hằng H, sinh năm 1964
Nơi c trú: Tổ A, thị trấn A, huyÖn Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai của nguyên đơn là ông Trần Viết T trình bày: Vào ngày 30/7/2020 vợ chồng ông Nguyễn Tiến T1, bà Trần Thị N, ở thị trấn A huyện Q, tỉnh Thái Bình đã chuyển nhượng cho ông T thửa đất ở số thửa 217, tờ bản đồ số 05 (nay là thửa đất số 432, tờ bản đồ số 19) diện tích 226m2, địa chỉ: Tổ E, thị trấn A, huyện Q; tài sản gắn liền với đất là nhà mái bằng cũ 02 gian. Ngày 25/10/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho ông T. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông T1 có nói cho ông T biết trên thửa đất có một số tài sản gồm hai khung nhà gỗ đã dựng, 01 khung nhà gỗ đã tháo rời và một số đồ đạc để trong hai nhà gỗ là tài sản của vợ chồng ông T1 nhưng do thiếu nợ lên bán lại cho ông Nguyễn Hằng H để gán nợ cho ông H. Ông T1 chuyển cho ông T 01 bản phô tô thống kê danh sách hạng mục tài sản gán nợ cho ông H để trên thửa đất, ông T1 có nói là trong thời gian tới ông H sẽ chuyển số tài sản trên đi. Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng đất do trong thời gian dịch bệnh Covid hạn chế đi lại và ở xa, vì vậy thỉnh thoảng ông có xuống kiểm tra thửa đất. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đã ủy quyền cho em trai ông là ông Trần Viết T2 quản lý sử dụng thửa đất trên thì ông H đã khóa cổng, ngăn cản không cho ông T2 vào bên trong thửa đất và cản trở quyền sử dụng đất. Ngày 02/7/2024 ông T xuống kiểm tra thửa đất thì phát hiện ông H cho người vào chăn nuôi và trồng cây cảnh trên thửa đất. Ngày 04/7/2024 ông T2 đến dọn dẹp bên trong thửa đất thì ông H đã đưa thêm một số người lạ cùng đến ngăn cản ông T2. Ông T cho rằng mục đích ông H ngăn cản quyền sử dụng đất là o ép ông phải mua số tài sản do vợ chồng ông T1 gán nợ cho ông H để trên thửa đất nhưng ông không có nhu cầu mua và ông H đưa ra giá quá đắt. Sau sự việc trên ông T và ông T2 đã làm đơn đề nghị, Ủy ban nhân dân thị trấn A đã mời hai bên lên hòa giải vận động ông H có nghĩa vụ di dời chuyển số đồ đạc trên thửa đất đi để trả lại thửa đất cho ông T nhưng không đạt kết quả. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H có nghĩa vụ di dời số tài sản thuộc quyền sở hữu của ông H hiện để trên thửa đất của ông tại Tổ E thị trấn A, huyện Q và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với ông đồng thời ông phản đối ý kiến của ông H yêu cầu ông phải có nghĩa vụ mua lại số tài sản còn lại để trên thửa đất.
Bị đơn là ông Nguyễn Hằng H trình bày: Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/11/2024 ông H khai ông không quen biết gì với ông T. Vợ chồng ông T1 bà N là người quen biết cùng khu phố A. Thời điểm năm 2020 ông có cho ông T1 bà N vay tiền, đến thời điểm trả nợ do không có khả năng thanh toán, vì vậy ông T1 bà N đã trả gán nợ cho ông H và một số chủ nợ khác bằng đồ vật gồm 02 khung nhà gỗ đã dựng lợp ngói, 01 khung nhà đã tháo dời và một số đồ vật khác để trong hai khung nhà. Toàn bộ số tài sản trên được để trên thửa đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông T1 bà N tại Tổ E, thị trấn A, huyện Q (thửa đất ông T đã nhận chuyển nhượng), sau khi vợ chồng ông T1 bàn giao tài sản thì ông đã khóa cổng để quản lý tài sản nói trên, ông đã bán một số tài sản, số còn lại ông vẫn để trên thửa đất đến thời điểm hiện nay. Kể từ sau thời điểm gán nợ, vợ chồng ông T1 không có mặt tại địa phương. Đối với ông T đến yêu cầu ông di dời số tài sản trên đất thì ông đã từ chối vì ông không biết ông T là ai. Thời điểm Ủy ban nhân dân thị trấn A mời ông lên làm việc về yêu cầu ông chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với ông T, ông đã trình bày quan điểm là khi nào tìm được khách bán số tài sản trên thì ông sẽ trả đất cho vợ chồng ông T1. Nay ông T muốn ông bàn giao lại thửa đất thì ông T phải mua lại số tài sản trên, ông sẽ bán theo giá ông đưa ra và sau khi ông T mua xong thì ông sẽ bàn giao khóa cổng và thửa đất. Ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, quá trình tố tụng tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa lần 1 và lần 2 ông H vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã xác minh:
- -Lời khai của bà Đỗ Thị H1 - Cán bộ Tư pháp hộ tịch thị trấn An Bài cung cấp: Ông H và vợ chồng ông T1 bà N là công dân thị trấn A, thời điểm năm 2020 ông T1 bà N có vay tiền của nhiều người, do làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ. Đối với thửa đất ở số thửa 432, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Tổ E thị trấn A thuộc quyền sử dụng của ông T1 bà N và đã được ông T1 bà N chuyển nhượng quyền sử dụng cho ông Trần Viết T. Cùng thời điểm ông T1 bà N còn bán đồ đạc để trên thửa đất để gán nợ cho ông H (Gồm các hạng mục tài sản như biên bản bán đồ đạc ngày 14/6/2020 giữa ông T1 bà N và ông H), sau khi nhận tài sản ông H không dịch chuyển tài sản đã mua mà vẫn để trên thửa đất và khóa cổng, cản trở quyền sử dụng đất đối với ông T dẫn đến tranh chấp. UBND thị trấn A đã mời hai bên lên hòa giải nhưng ông H vẫn không dịch chuyển tài sản. UBND thị trấn A không nắm được ông H đại diện cho các chủ nợ nào vì không có căn nào thể hiện ông H là người được các chủ nợ khác ủy quyền đứng ra mua số tài sản của ông T1 bà N gán nợ. Thời điểm hiện tại ông T1 bà N không cư trú tại địa phương.
- -Lời khai của ông Nguyễn Cảnh Q - Cán bộ tư hộ tịch thị trấn A cung cấp: Thửa đất số thửa 217, tờ bản đồ số 05, diện tích 226m2, địa chỉ thửa đất: Tổ E, thị trấn A thuộc quyền sử dụng của ông T1 bà N. Ngày 30/7/2020 ông T1 bà N đã chuyển nhượng cho ông Trần Viết T; ngày 25/10/2023 Văn phòng Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Viết T, thông tin thửa đất là thửa số 432, tờ bản đồ số 19, tổ E thị trấn A.
- -Đối với vợ chồng ông T1, bà N không có mặt tại địa phương, vì vậy Tòa án không xác minh được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng và tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 11, Điều 23, Điều 25, Điều 26 Luật đất đai năm 2024; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hằng H chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với ông Trần Viết T tại thửa đất ở số thửa 432, tờ bản đồ số 19, diện tích 226 m², địa chỉ: Tổ E, thị trấn A, huyện Q, tinh T. Buộc ông H phải có nghĩa vụ di dời số tài sản của ông H ra ngoài thửa đất.
Nguyên đơn nhận chịu tiền chi phí thẩm định tài sản và án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất. Thửa đất tranh chấp và bị đơn có nơi cư trú tại tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Thửa đất số thửa 217, tờ bản đồ số 05 nay là thửa số 432, tờ bản đồ số 19, diện tích 226m2, địa chỉ: Tổ E, thị trấn A, huyện Q cùng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất là 02 gian nhà mái bằng (đã cũ) thuộc quyền sử dụng và sở hữu của vợ chồng ông Nguyễn Tiến T1, bà Trần Thị N đều cư trú cùng địa chỉ. Ngày 30/7/2020 ông T1 bà N đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất cho ông Trần Viết T tại Văn phòng công chứng. Sau khi hoàn thiện việc nộp thuế trước bạ, ngày 25/10/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, mang tên chủ sử dụng đất: Trần Viết T. Theo lời khai của các đương sự và tài liệu thu thập thể hiện tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vợ chồng ông T1, bà N có trao đổi với ông T biết rõ trên thửa đất có hạng mục tài sản khác để trên thửa đất và đã được ông T1 bà N gán nợ cho ông Nguyễn Hằng H là người cùng thị trấn A đồng thời trong thời gian tới ông H sẽ di dời đi, nhưng trước mắt đề nghị ông T cho để nhờ trên thửa đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T và em trai là ông Trần Viết T2 (người được ông T ủy quyền quản lý thửa đất) đã nhiều lần yêu cầu ông H tháo dỡ và di dời tài sản để nhờ trên thửa đất để trả lại quyền sử dụng đất nhưng ông H không thực hiện và còn có hành vi khá cổng, thậm chí đưa một số người đến cản trở và không cho ông T và ông T2 vào trong thửa đất. Ông T đã làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn A can thiệp nhưng không đạt kết quả do ông H đưa ra quan điểm yêu cầu ông T có nghĩa vụ mua lại số tài sản trên.
2.1.Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: Thửa đất số thửa 432, tờ bản đồ số 19, diện tích 226m2, địa chỉ: Tổ E, thị trấn A, huyện Q được ông T1 bà N tự nguyện chuyển nhượng cho ông T vào ngày 30/7/2020; ngày 25/10/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, mang tên chủ sử dụng đất: Trần Viết T là đúng trình tự quy định của pháp luật. Vì vậy cần xác định chủ sử dụng hợp pháp thửa đất là ông Trần Viết T. Đối với số tài sản mà ông T1 bà N gán nợ cho ông H được để trên thửa đất có từ trước thời điểm chuyển nhượng. bản thân ông H và các bên cũng không có văn bản hoặc thỏa thuận nào cho phép ông H để số tài sản trên thửa đất. Vì vậy khi ông T xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ tháo dỡ và di dời số tài sản của ông H để trên thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông T là đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
2.2.Xét yêu cầu của bị đơn và số tài sản để trên thửa đất thấy: Thời gian trước năm 2020 do vợ chồng ông T1 bà N vay nợ của cá nhân ông H và không có khả năng trả nợ, vì vậy ngày 14/6/2020 ông T1 bà N và ông H đã ký văn bản “Giấy biên nhận bán đồ đạc trên đất để trả nợ”. Theo đó ông T1 bà N bán 14 hạng mục tài sản cho ông H để gán nợ “theo số liệu ông H đã xuất trình cho Tòa án tại BL số 47”. Sau thời điểm ngày 14/6/2020 thay vì di dời số tài sản đã mua, ông H vẫn để số tài sản này trên thửa đất mặc dù ông T đã thông báo cho biết thửa đất đã được vợ chồng ông T1 bà N chuyển nhượng cho ông T, ông H đã có hành vi khóa cổng, cản trở quyền sử dụng đất và không cho ông T vào trong thửa đất. Quá trình tố tụng ông H không xuất trình được chứng cứ thể hiện các bên cho phép ông H để số tài sản trên thửa đất. Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/11/2024 ông H khai ông đã bán đi một số hạng mục tài sản, số còn lại ông yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ mua lại theo giá thỏa thuận hoặc đến khi nào bán được số tài sản trên thì sẽ giao lại thửa đất cho chủ sử dụng là không có căn cứ chấp nhận và làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất.
[3] Đối với số tài sản ông H hiện để trên thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông T tại tổ E, thị trấn A: Tại biên bản thẩm định ngày 13/12/2024 đã xác định số tài sản hiện ông H còn để trên thửa đất gồm:
- -Một khung nhà gỗ ba gian đã dựng lợp ngói mũi đỏ, nhà lim cổ đã cũ, tường xây mặt trước cửa gỗ quay hướng tây (nằm ở phía sau);
- -Một khung nhà gỗ ba gian đã dựng, tường xây mặt trước cửa gỗ đã cũ, kiểu nhà cổ quay hướng tây lợp ngói đỏ (nằm ở phía trước) .
- -Tài sản trong khung nhà gồm:
- +Trong khung nhà phía trước có: 01 bộ bàn ghế đi văng gỗ cũ gồm 01 ghế dài, 02 ghế nhỏ, 01 bàn; 01 bàn thờ gỗ cũ bên trên có 02 lọ lục bình; 01 giường đôi bằng gỗ đã cũ, không có chiếu; 01 tủ đôi gỗ đã cũ; 01 bộ câu đối cũ bằng gỗ loại dài và 01 bộ câu đối bằng gỗ cũ ngắn; Ngoài hiên nhà có để những đoạn thanh rui mè bằng gỗ đã cũ (không đếm được số lượng thanh).
- +Trong khung nhà phía sau có: 01 tủ bích phê bằng gỗ đã cũ; 01 bàn thờ bằng gỗ đã cũ; 01 tủ chè gỗ đã cũ trong đó một cánh đã rơi; 01 khám thở gỗ đã cũ; 01 bộ bàn ghế đi văng gỗ cũ gồm 01 ghế dài, 02 ghế đơn và 01 bàn, 01 tủ bích phê buồng bằng gỗ, 01 giường gỗ cũ đã tháo rời; 01 bàn trang điểm bằng gỗ không có gương; Ngoài hiên có 01 bộ khung nhà cũ đã tháo rời để ở hiên nhà và ngoài sân.
- +Trong căn nhà mái bằng 02 gian có 01 phản gỗ cũ đã tháo rời, 01 giường gỗ cũ.
Các bên thống nhất hai ngôi nhà gỗ, nhà phía trước và nhà phía sau và tài sản trong hai ngôi nhà + ngoài sân và tài sản trong ngôi nhà mái bằng là tài sản của ông H. Căn nhà mái bằng thuộc quyền sử dụng của ông T. Các bên còn thống nhất, không thẩm định: gồm 06 cây cau và một số cây cảnh trồng trong chậu nhựa ở ngoài sân là tài sản của ông H, ông H không yêu cầu thẩm định.
Toàn bộ số tài sản trên hiện do ông H là người trực tiếp quản lý và ông H trực tiếp khóa cổng để quản lý.
[4] Đối với ý kiến của ông H cho rằng số tài sản trên do ông T1 bà N gán nợ cho các chủ nợ, ông H chỉ là một trong số các chủ nợ và đứng ra nhận thay. Tại biện bản ghi lời khai ngày 05/11/2024 ông H cũng không biết các chủ nợ khác là ai, bản thân ông cũng không xuất trình được văn bản hoặc căn cứ thể hiện ông là người được các chủ nợ khác ủy quyền cho ông đứng ra nhận thay. Qua xác minh Ủy ban nhân dân thị trấn A cung cấp không xác định được các chủ nợ khác là ai. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận lời khai của ông H và xác định số tài sản trên thửa đất thuộc quyền sở hữu của ông H.
[5] Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông H chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất của nguyên đơn tại thửa đất số 432, tờ bản đồ số 19, diện tích 226m2, địa chỉ: Tổ E, thị trấn A, huyện Q. Buộc bị đơn phải di dời số tài sản để trên thửa đất (tài sản như biên bản thẩm định) ra khỏi thửa đất là phù hợp với quy định tại Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 11, Điều 23, Điều 25, Điều 26 Luật đất đai năm 2024
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn tự nguyện nhận chịu án phí dân sự sơ thẩm
[7] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn nhận chịu 1.500.000đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền trên.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 11, Điều 23, Điều 25, Điều 26 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà ông Trần Viết T.
- Buộc ông Nguyễn Hằng H chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông T tại thửa đất số thửa 432, tờ bản đồ số 19, diện tích 226m2, địa chỉ: Tổ 5, thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Buộc ông Nguyễn Hằng H phải di dời số tài sản của ông H hiện ông H để trên thửa đất ra ngoài vị trí thửa đất.
Tài sản di dời gồm:
- + Một khung nhà gỗ ba gian đã dựng lợp ngói mũi đỏ, nhà lim cổ đã cũ, tường xây mặt trước cửa gỗ quay hướng tây (nằm ở phía sau);
- + Một khung nhà gỗ ba gian đã dựng, tường xây mặt trước cửa gỗ đã cũ, kiểu nhà cổ quay hướng tây lợp ngói đỏ (nằm ở phía trước) .
- + 01 bộ bàn ghế đi văng gỗ cũ gồm 01 ghế dài, 02 ghế nhỏ, 01 bàn; 01 bàn thờ gỗ cũ bên trên có 02 lọ lục bình; 01 giường đôi bằng gỗ đã cũ, không có chiếu; 01 tủ đôi gỗ đã cũ; 01 bộ câu đối cũ bằng gỗ loại dài và 01 bộ câu đối bằng gỗ cũ ngắn; Ngoài hiên nhà có để những đoạn thanh rui mè bằng gỗ đã cũ (không đếm được số lượng thanh). Toàn bộ được để trong khung nhà gỗ nhà phía trước.
- + 01 tủ bích phê bằng gỗ đã cũ; 01 bàn thờ bằng gỗ đã cũ; 01 tủ chè gỗ đã cũ trong đó một cánh đã rơi; 01 khám thở gỗ đã cũ; 01 bộ bàn ghế đi văng gỗ cũ gồm 01 ghế dài, 02 ghế đơn và 01 bàn, 01 tủ bích phê buồng bằng gỗ, 01 giường gỗ cũ đã tháo rời; 01 bàn trang điểm bằng gỗ không có gương. Toàn bộ được để trong khung nhà gỗ nhà phía sau và 01 bộ khung nhà cũ đã tháo rời để ở hiên nhà gỗ phía sau và ngoài sân.
- + 01 phản gỗ cũ đã tháo rời, 01 giường gỗ cũ được để trong căn nhà mái bằng 02 gian
- + 06 cây cau và một số cây cảnh trồng trong chậu nhựa ở ngoài sân.
- Về án phí: Ông T nhận chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo phiếu thu số 0004831 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 01/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ản trở quyền sử dụng đất : Anh Trần Viết T, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định -Bị đơn: Ông Nguyễn Hằng H, sinh năm 1964 Nơi c tró: Tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh thái bình
