|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HS-ST |
|
|
Ngày 24-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn
Bà Nguyễn Thị Công Mừng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST - HS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/7/1995 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Con ông Hà Văn C, sinh năm 1970 (đã chết) và con bà Lê Thị Q, sinh năm 1972; Vợ: Lô Thị B, sinh năm 1995; Con: có 01 con, sinh năm 2020.
Tiền án: có 02 tiền án
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hà Văn Đ 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/7/2021, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 21/9/2022, Đ chấp hành xong án phạt tù; ngày 22/9/2021 Đ chấp hành xong án phí.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang áp dụng tình tiết tăng nặng Tái phạm, xử phạt Hà Văn Đ 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/02/2023; buộc bồi thường cho chị Trần Thị Y số tiền 250.000 đồng, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 300.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm. Ngày 20/5/2024, Đ chấp hành xong án phạt tù, chưa chấp hành xong tiền án phí, bồi thường dân sự. Tính đến thời điểm phạm tội này Đ chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 324/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Hà Văn Đ 08 tháng tù về “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/6/2017, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/12/2017 Đ chấp hành xong án phí. Ngày 23/02/2018, Đ chấp hành xong án phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội mới Đ đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Lường Thị T, sinh năm 1973 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Văn M, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Lê Thị Q, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang), là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 13 giờ ngày 16/11/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn Đỏ- Đen- Bạc, không gắn biển kiểm soát và mang theo 01 chiếc vam tự chế bằng kim loại và 01 chiếc cờ lê bằng kim loại mục đích xem gia đình nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ đi đến thôn C, xã S, huyện L thì phát hiện thấy một ngôi nhà ở gần đường, cổng sắt vẫn mở nhưng không có người ở nhà (sau này xác định là nhà bà Lường Thị T, sinh năm 1973). Đ dựng xe ở lề đường rồi đi bộ vào trong dùng cờ lê cậy ổ khóa cửa bếp lục tìm và bê 01 bộ máy phun thuốc sâu đi ra ngoài. Lúc này, có anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1982 ở thôn C, xã S, huyện L đi ngang qua phát hiện nên đã gọi điện báo cho Công an xã S biết và gọi một số người dân xung quanh đó bắt giữ Đ. Công an xã S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ về hành vi trộm cắp tài sản. Thu giữ vật chứng là 01 (một) máy bơm phun thuốc trừ sâu gồm phần mô tơ động cơ ghi nhãn hiệu Trần Hưng Đ1, công suất 1.1W và máy đẩy nén màu đỏ, nhãn hiệu POWER SPRAYER, có phần giá khung sắt; 01 (một) chiếc khóa nhãn hiệu Việt Tiệp màu đen, phần ổ khóa và chốt khóa đã bị bật một bên; 01 (một) chiếc mỏ lết ghi chữ FORGED STEEL bằng kim loại đã bị cong
vênh, loại 8-200mm; 01 (một) vam tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 76cm, một đầu được hàn hai đoạn kim loại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Readmi vỏ màu xanh đã cũ; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe wave, màu đỏ đen, không gắn biển kiểm soát và số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Cùng ngày, Công an xã S đã bàn giao đối tượng Hà Văn Đ cùng những tài liệu, đồ vật đã thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại kết luận định giá tài sản số 124 ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
+ 01 (một) bộ máy phun thuốc sâu, gồm: Phần mô tơ màu bạc, nhãn hiệu Động cơ Trần Hưng Đ1, công suất 1,1W, động cơ không đồng bộ 1 pha, được sản xuất tại Việt Nam + Phần máy đẩy nén màu đỏ, nhãn hiệu POWER SPRAYER, có phần giá khung sắt, được sản xuất tại Trung Quốc. Phần động cơ nối phần máy đẩy nén bằng 02 dây cô loa loại A-39 + 01 đoạn dây điện dài 1,5 mét, dây điện bọc nhựa CU/PVC, nhãn hiệu LALO DAYVIET, thông số 300/500V, MSP: 2Cx1,5, có gắn phích cắm nhãn hiệu TASAKY, loại siêu chịu tải 6000w), có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 16/11/2024 là 1.420.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng);
+ 01 (một) ổ khóa gang treo nhãn hiệu Việt Tiệp, loại 38mm, màu đen, có giá trị là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
Hà Văn Đ có hành vi phá ổ khóa của gia đình bà T để trộm cắp tài sản, trị giá chiếc khóa là 20.000 đồng, chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/12/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC đối với Hà Văn Đ với số tiền 4.000.000 đồng.
Về vật chứng, tài sản thu giữ:
Chiếc xe mô tô Đ sử dụng đi trộm cắp tài sản do Đ mượn của anh trai là Hà Văn M, sinh năm 1991 ở cùng thôn, anh M không biết việc Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội; gia đình anh M đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Hợp đồng mua bán xe; 01 biển kiểm soát 98B1-328.41; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hoàng Thị L. Chiếc điện thoại di động và số tiền 150.000 đồng là do bà Lê Thị Q là mẹ đẻ của Đ cho Đ sử dụng. Ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Hà Văn M 01 xe mô tô biển số 98B1-328.41 (kèm theo giây tờ xe); trả lại cho bà Lê Thị Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng; trả lại cho bà Lường Thị T 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu.
Số vật chứng còn lại gồm: Số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc vam tự chế bằng kim loại; 01 (một) chiếc mỏ lết bằng kim loại; 01 (một) ổ khóa gang treo nhãn hiệu Việt-Tiệp được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lường Thị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị can phải bồi thường chiếc khóa bị hỏng.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-LNg ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hà Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Bị hại là bà Lường Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc vam tự chế bằng kim loại; 01 (một) chiếc mỏ lết bằng kim loại; 01 (một) ổ khóa gang treo nhãn hiệu Việt-Tiệp được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
Trả lại bị cáo Hà Văn Đ số tiền 150.000 đồng nhưng tạm giữ lại đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Hà Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Tại phiên tòa bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Những người này đã có lời khai rõ ràng tại cơ quan điều tra, đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không ai có yêu cầu gì, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về căn cứ xác định bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hà Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang) là người đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/11/2024, Đ đã dùng vam phá khóa cửa bếp gia đình bà Lường Thị T, sinh năm 1971 ở thôn C, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang trộm cắp 01 (một) bộ máy phun thuốc sâu có giá trị 1.420.000 đồng.
Bị cáo Hà Văn Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, VKSND huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật
-
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
-
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương; bản thân bị cáo đã có nhân thân về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” tội “Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đây là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra
-
khỏi xã hội một thời gian mới giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đối với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra, HĐXX thấy mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là cao chưa phù hợp so với hành vi của bị cáo thực hiện. Do đó, HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 173 để phạt bổ sung cho bị cáo.
-
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lường Thị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chiếc khóa bị hỏng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
[7] Về vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô Đ sử dụng đi trộm cắp tài sản do Đ mượn của anh trai là Hà Văn M, sinh năm 1991 ở cùng thôn, anh M không biết việc Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội; gia đình anh M đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Hợp đồng mua bán xe; 01 biển kiểm soát 98B1-328.41; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hoàng Thị L. Chiếc điện thoại di động và số tiền 150.000 đồng là do bà Lê Thị Q là mẹ đẻ của Đ cho Đ sử dụng. Ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Hà Văn M 01 xe mô tô biển số 98B1-328.41 (kèm theo giấy tờ xe); trả lại cho bà Lê Thị Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng; trả lại cho bà Lường Thị T 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 01 (một) chiếc vam tự chế bằng kim loại; 01 (một) chiếc mỏ lết bằng kim loại được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn là sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên HĐXX cần áp dụng Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) ổ khóa gang treo nhãn hiệu Việt-Tiệp được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn là vật không có giá trị nên HĐXX cần áp dụng Điều 106 BLHS tịch thu tiêu hủy
Đối với số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn là tài sản riêng của bị cáo Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên áp dụng Điều 106 BLHS để trả lại bị cáo tuy nhiên cần giữ lại đảm bảo thi hành án.
-
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
-
[9] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyên kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/11/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc vam tự chế bằng kim loại; 01 (một) chiếc mỏ lết bằng kim loại; 01 (một) ổ khóa gang treo nhãn hiệu Việt-Tiệp được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
Trả lại bị cáo Hà Văn Đ số tiền 150.000 đồng nhưng tạm giữ lại đảm bảo thi hành án.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo cáo Hà Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Công Định |
Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản"
