|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 01/2025/KDTM-PT Ngày 23-01-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang;
Bà Lê Thị Hải Yến.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 07/2024/TLPT-KDTM, ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên (nay là thành phố T), thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2024/QĐXX-PT, ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐ-PT, ngày 17 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT, ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1; địa chỉ trụ sở: T, số C H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Đức C, nơi cư trú: Số A, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội (văn bản uỷ quyền số 439/QĐ-BDIV.LT, ngày 03/11/2021); có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ H5; địa chỉ trụ sở: Số A, phố M, xã T, huyện T (nay là phường D, thành phố T), thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1952; nơi cư trú: Số B, đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phạm Thị K, anh Lê Tuấn A và chị Nguyễn Thu H; nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thu H: Ông Nguyễn Thanh Đ, nơi cư trú: Tổ C, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Trịnh Văn H1, nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Bà Phạm Thị N1, bà Trần Thị D, ông Trần Văn H2, bà Trần Thị H3, bà Trần Thị L và bà Trần Thị M; đều cư trú: Thôn X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.
+ Bà Trần Thị H4, nơi cư trú: Tổ B, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1965, nơi cư trú: Số D, đường P, tổ B, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị K, anh Lê Tuấn A, chị Nguyễn Thu H và anh Trịnh Văn H1: Ông Lã Viết N2 - Luật sư Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thu H; nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và nội dung kháng cáo:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1) trình bày: Ngân hàng P - Chi nhánh tại Hải Phòng, nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 - Chi nhánh H6 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và Công ty Cổ phần Đ2 vừa và nhỏ Hải Phòng (sau đây gọi tắt là Công ty vừa và nhỏ) có ký các hợp đồng tín dụng như sau:
- - Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số N.C.0297.10/HĐTD, ngày 29/9/2010, Ngân hàng cho Công ty vừa và nhỏ vay số tiền 3.500.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động, thời hạn vay 12 tháng; tiền lãi được trả 01 tháng 1 lần; tiền gốc trả sau 12 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên.
- - Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số N.C.0005.11/HĐTD ngày 05/01/2011, Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho Công ty vừa và nhỏ 7.500.000.000 đồng; hạn mức cho vay không vượt quá 5.000.000.000 đồng (bao gồm toàn bộ dư nợ vay của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số N.C.0297.10/HĐTD ngày 29/9/2010); hạn mức bảo lãnh hợp đồng không vượt quá 2.500.000.000 đồng. Ngày 08/01/2011 Ngân hàng đã cho Công ty vừa và nhỏ vay 1.500.000.000 đồng tại Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bảng kê rút vốn số N.C.0005.11.01/HĐTD; mục đích vay: Thanh toán tiền mua đá hộc và vận chuyển cho Công ty Cổ phần X; thời hạn vay là 09 tháng.
Các hợp đồng tín dụng nêu trên còn thoả thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả lãi. Tổng số tiền Ngân hàng đã cho Công ty vừa và nhỏ vừa và nhỏ vay là 5.000.000.000 đồng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là tài sản thế chấp của bên thứ ba gồm các tài sản sau:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là: Tổ dân phố số A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số Đ 602327, số vào sổ cấp GCNQSDĐ 00269/QSDĐ/KT-22-Q1 ngày 25/11/2004 cho hộ bà Phạm Thị K (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0297.10/HDTC3 ngày 29/9/2010 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0297.10.01/PLHDTC3 ngày 05/01/2011).
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 100, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là Tổ dân phố số A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng). GCNQSDĐ số AC 057706, số vào sổ cấp GCNQSDĐ 00376-KT-22-Q1 cấp ngày 24/10/2005 cho người sử dụng ông Trịnh Văn H1 (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0300.10/HDTC3 ngày 29/9/2010 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0300.10.01/PLHDTC3 ngày 05/01/2011).
Đến hạn trả nợ gốc của các hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty vừa và nhỏ không trả nợ cho Ngân hàng. Khoản vay 3.500.000.000 đồng chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 01/10/2011 và khoản vay 1.500.000.000 đồng chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 08/10/2011. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng Công ty vừa và nhỏ không trả được nợ. Tính đến ngày 17/7/2024 Công ty vừa và nhỏ còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 12.408.706.098 đồng; trong đó nợ gốc là 2.705.249.146 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.537.106.571 đồng và nợ lãi quá hạn là 3.166.350.381 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty vừa và nhỏ phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc nợ lãi như trên và tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trong trường hợp Công ty vừa và nhỏ không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ đề nghị xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bị đơn. Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Tổ dân phố số A, phường H, quận D, đã được cấp GCNQSDĐ số Đ 602327, số vào sổ 00269/QSDĐ/KT-22-Q1 ngày 25/11/2004 cho hộ bà Phạm Thị K.
Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của ông Trịnh Văn H1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0300.10/HDTC3 ngày 29/9/2010.
Đối với bị đơn (Công ty vừa và nhỏ H5; có địa chỉ trụ sở tại số nhà A, phố M, phường D, thành phố T, thành phố Hải Phòng) do ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1952; nơi cư trú: Số nhà B, đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; là Giám đốc Công ty và là người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Toà án nhưng Công ty vừa và nhỏ không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên toà người đại diện hợp pháp của Công ty vừa và nhỏ đều vắng mặt không có lý do.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Phạm Thị K và anh Lê Tuấn A) thống nhất trình bày: Thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; tại tổ dân phố số A, phường H, quận D là tài sản chung của cả gia đình bà K gồm: Bà K, ông C1 (chồng bà K, đã chết năm 2012), anh Tuấn A (con trai bà K) và chị Nguyễn Thu H (vợ anh Tuấn A). Năm 2000 anh Tuấn A kết hôn với chị H và về chung sống cùng với gia đình bà K. Năm 2004 anh Tuấn A và chị H có góp tiền xây ngôi nhà 3 tầng như hiện nay. Năm 2010 bà K có cho ông Nguyễn Thanh N là Giám đốc Công ty vừa và nhỏ mượn GCNQSDĐ số Đ 602327 để thế chấp vay tiền Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp chỉ có bà K và ông C1 ký; anh Tuấn A và chị H không ký; do vậy đề nghị Toà án xem xét làm rõ hợp đồng thế chấp có phải là lừa đảo hay không. Bà K chỉ thừa nhận có ký vào hợp đồng thế chấp còn các văn bản khác liên quan đến Ngân hàng bà K không ký. Trước khi ký bà không hỏi và Ngân hàng cũng không hỏi ý kiến của chị H mặc dù chị H là con dâu của bà ở cùng gia đình bà từ trước khi được cấp GCNQSDĐ. Ông C1 là chồng bà K đã chết nhưng Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết không đảm bảo quyền lợi cho các con của ông C1. Gia đình bà K đã làm đơn lên các cơ quan tối cao đề nghị xem xét giám đốc thẩm với Bản án phúc thẩm nêu trên và hiện nay gia đình đang chờ kết quả trả lời của các cơ quan tối cao. Bà K và anh Tuấn A không đồng ý để Ngân hàng phát mại tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; tại dân phố số A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Hiện tài sản thế chấp vẫn do bà K và anh Tuấn A quản lý sử dụng và vẫn giữ nguyên hiện trạng như tại thời điểm Toà án xem xét thẩm định và định giá tài sản. Bà K và anh Tuấn A đồng ý với kết quả định giá ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản của quận D và không đề nghị Toà án định giá lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thu H) trình bày: Năm 2000 chị kết hôn với anh Tuấn A và về ở chung với gia đình bà K tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01 tổ dân phố số A, phường H, quận D. Năm 2004 vợ chồng chị góp tiền cùng với bố mẹ chồng để xây nhà kiên cố ba tầng trên diện tích đất nêu trên. Năm 2015 khi nhận được thông báo của Toà án về việc Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản là thửa đất trên thì chị H mới biết việc bà K đã thế chấp nhà và đất. Chị H không ký thế chấp, không biết việc bà K thế chấp. Chị H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với lý do: Chị có quyền sử dụng đối với ¼ diện tích thửa đất và 85% giá trị ngôi nhà trên đất. Việc thế chấp không được sự đồng ý của chị H nên Ngân hàng không có quyền yêu cầu phát mại đối với tài sản của chị H.
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác là vợ và các con của ông C1) gồm: Bà Trần Thị D, bà Phạm Thị N1, bà Trần Thị H4, ông Trần Văn H2, bà Trần Thị H3, bà Trần Thị L, bà Trần Thị M đều không có lời khai trình bày về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án KDTM sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST, ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, đã quyết định:
“Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 217, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 293, 298, 317, 319, 320, 321, 322, 323, 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; các điều 90, 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị tuyên phát mại đối với tài sản bảo đảm của ông Trịnh Văn H1 theo Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 0300.10/HDTC3 ngày 29/9/2010 do Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1.
Buộc Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 theo Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số N.C.0297.10/HĐTD, ngày 29/9/2010, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số N.C.0005.11/HĐTD ngày 05/01/2011, tổng số tiền tính đến hết ngày 17/7/2024 là 12.408.706.098 đồng (trong đó nợ gốc là 2.705.249.146 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.537.106.571 đồng và nợ lãi quá hạn là 3.166.350.381 đồng).
Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số T297.10/HDTC3_ngày 29/9/2010 để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán 2.200.000.000 đồng và tiền lãi của Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn A, xã H, K, Hải Phòng (nay là Tổ dân phố số A, phường H, D, Hải Phòng). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 602327, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00269/QSDĐ/KT-22-Q1 ngày 25/11/2004 cho hộ bà Phạm Thị K.
Việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ được thực hiện theo Quyết định của Bản án phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng như sau: Sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền thu được từ quyền sử dụng diện tích đất 253m² sẽ chia làm 04 phần bằng nhau, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thu H ¼ giá trị quyền sử dụng đất mà chị Nguyễn Thu H được hưởng. Số tiền thu được sau khi phát mại ngôi nhà ba tầng trên diện tích đất 253m², Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thu H 85% giá trị ngôi nhà. Khi phát mại tài sản phải dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.
Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ H5 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp.
Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng phải chịu 120.408.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí 59.800.000 đồng tại biên lai thu số 0000763 ngày 26/3/2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ”.
Ngày 09/9/2024 Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên nhận được Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thu H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
- Huỷ Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên;
- Tuyên bố huỷ Hợp đồng thế chấp số 0297.10/HDTC3 ngày 29/9/2010 và Phụ lục hợp đồng số 0297.10/HĐTC ngày 05/01/2011 giữa bên thế chấp là hộ bà Phạm Thị K và bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1, là vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm về việc buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn và yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật trong trường hợp bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ như nội dung Bản án sơ thẩm của Toà án thành phố T.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị H) trình bày ý kiến giữ nguyên yêu cầu và nội dung kháng cáo.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và phát biểu ý kiến về kháng cáo:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã cơ bản thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét nội dung kháng cáo của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị H) thấy: Bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thu H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người kháng cáo (chị H) phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kháng cáo của bị đơn, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về thủ tục tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật có tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là: “Tranh chấp kinh doanh thương mại” là chưa cụ thể và chính xác mà cần phải xác định đây là: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Bị đơn (Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng) có địa chỉ trụ sở tại số nhà A, Phố M, phường D, thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, theo khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về sự có mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm: Chị T, anh H1, bà N1, bà D, ông H2, bà H3, bà M, bà H4, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà K, anh Tuấn A và chị H là ông Lã Viết N2 - Luật sư Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án:
- [3] Về chủ thể tham gia ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản: Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết giữa Ngân hàng với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức và nội dung của các hợp đồng đều phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.
- [4] Về thanh toán nợ gốc và nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng: Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của mình theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Bị đơn còn nợ, chưa thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số N.C.0297.10/HĐTD, ngày 29/9/2010 và Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số N.C.0005.11/HĐTD ký ngày 05/01/2011. Tạm tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền mà bị đơn còn nợ, chưa thanh toán cho nguyên đơn là 12.408.706.098 đồng; trong đó nợ gốc là 2.705.249.146 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.537.106.571 đồng và nợ lãi quá hạn là 3.166.350.381 đồng. Do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ nêu trên và Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn và quá hạn tổng số tiền 12.408.706.098 đồng và xử lý tài sản thế chấp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bị đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho nguyên đơn là chính xác và có căn cứ.
- - Xem xét đối với các nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thu H:
- [5] Về chủ thể tham gia ký hợp đồng thế chấp tài sản: Chị H có ý kiến cho rằng Hợp đồng ủy quyền giữa anh Tuấn A, ông C1 cho bà K ký thế chấp tài sản là giả mạo vì anh Tuấn A không có mặt tại địa phương vào thời điểm này. Xét thấy việc thế chấp tài sản và giám định các tài liệu liên quan đến việc thế chấp tài sản như trình bày của chị H đã được xem xét và giải quyết tại Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đang có hiệu lực pháp luật. Do đó, không có cơ sở để xem xét và giải quyết ý kiến này của chị H.
- [6] Về ý kiến của chị H cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không đưa chị Lê Thị T (là con gái riêng của bà K) vào tham gia tố tụng để xem xét cho chị T được hưởng thừa kế đối với di sản của ông C1 là thiếu người tham gia tố tụng vì khi chị T mới lên 8 tuổi thì bà K kết hôn cùng ông C1 và đưa cả chị T về sống chung cùng ông C1 và bà K. Do vậy giữa ông C1 và chị T đã có quan hệ nuôi dưỡng như cha con nên chị T phải là người được hưởng di sản thừa kế của ông C1 chết đi để lại theo Điều 654 Bộ luật Dân sự. Xét thấy, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên giải quyết quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng với Công ty vừa và nhỏ. Việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo phương thức đã được nêu trong phần quyết định của Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã có hiệu lực pháp luật. Những người thừa kế của ông C1 (trong đó có chị T) không có đề nghị Toà án phân chia di sản của ông C1 trong vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét, giải quyết. Trường hợp có phát sinh tranh chấp và chị T có yêu cầu thì chị T có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm cũng đã đưa chị T vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chị T cũng không có bản tự khai trình bày ý kiến, quan điểm của mình và sau khi xét xử sơ thẩm thì chị T cũng không kháng cáo đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên.
- [7] Đối với kháng cáo của chị H về việc ông C1 và anh Tuấn A không ủy quyền cho bà K thế chấp tài sản gắn liền với đất nhưng Tòa án lại tuyên chấp nhận việc phát mại cả căn nhà là không đúng. Xét thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 BLDS 2015 “1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Trong trường hợp này tuy bà K không thế chấp tài sản gắn liền với đất nhưng hộ gia đình bà K đồng thời là chủ sở hữu căn nhà trên đất nên theo quy định trên, việc phát mại cả tài sản trên đất là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [8] Đối với kháng cáo của chị H cho rằng Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên ban hành Bản án sơ thẩm số 02 ngày 24/01/2018 và Bản án số 07 ngày 17/7/2024 có nội dung trái ngược nhau. Vấn đề này không làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên vì Bản án sơ thẩm số 02 ngày 24/01/2018 do có sai sót nên đã bị sửa bởi Bản án phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- [9] Theo Thông báo số 545/TB-TA ngày 23/6/2023 của Toà án nhân dân tối cao về việc thông báo giải quyết đơn giám đốc thẩm có nội dung như sau: “Sau khi nghiên cứu đơn đề nghị và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Toà án nhân dân tối cao thấy không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng”. Do vậy Bản án phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn đang có hiệu lực pháp luật nên có giá trị thi hành đối với các đương sự.
- [9] Từ những phân tích nêu trên thấy Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên xét xử và tuyên về phương thức xử lý tài sản thế chấp theo quyết định của Bản án số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã có hiệu lực pháp luật là phù hợp với thực tế và đảm bảo đúng quy định của pháp luật; đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thu H.
- [10] Tuy nhiên, việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ được thực hiện theo phương thức đã được nêu cụ thể trong phần Quyết định của Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, cụ thể như sau: Sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền thu được từ quyền sử dụng diện tích đất 253m² sẽ chia làm 04 (bốn) phần bằng nhau, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thu H ¼ giá trị quyền sử dụng đất mà chị Nguyễn Thu H được hưởng. Số tiền thu được sau khi phát mại ngôi nhà ba tầng trên diện tích đất 253m², Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thu H 85% giá trị ngôi nhà. Khi phát mại tài sản phải dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu. Do vậy khi Toà án cấp sơ thẩm lại nêu lại vấn đề xử lý tài sản đảm bảo này trong phần Quyết định của bản án sẽ rất dễ bị cho rằng giải quyết lại vấn đề đã được giải quyết bằng một bản án đang có hiệu lực pháp luật. Vấn đề này cần rút kinh nghiệm đối với Toà án cấp sơ thẩm. Trong trường hợp này chỉ cần ghi: Khi xử lý tài sản đảm bảo để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bị đơn được thực hiện theo phương thức được nêu trong phần Quyết định của Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- [11] Đối với việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc xử lý tài sản bảo đảm của ông Trịnh Văn H1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 0300.10/HDTC3 ngày 29/9/2010; Toà án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
- [12] Từ phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thu H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên.
- [13] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 217, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 116, 117, 293, 298, 317, 319, 320, 321, 322, 323, 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; các điều 90, 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thu H, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị xử lý tài sản đảm bảo đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 0300.10/HDTC3 ngày 29 tháng 9 năm 2010 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 với ông Trịnh Văn H1, do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 rút yêu cầu khởi kiện.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1:
Buộc Công ty Cổ phần Đ2 phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 theo Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số N.C.0297.10/HĐTD, ngày 29 tháng 9 năm 2010, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số N.C.0005.11/HĐTD ngày 05 tháng 01 năm 2011, tổng số tiền tính đến hết ngày 17 tháng 7 năm 2024 là 12.408.706.098 đồng (Mười hai tỷ bốn trăm linh tám triệu bảy trăm linh sáu nghìn không trăm chín tám đồng); trong đó nợ gốc là 2.705.249.146 đồng (Hai tỷ bảy trăm linh năm triệu hai trăm bốn chín nghìn một trăm bốn sáu đồng), nợ lãi trong hạn là 6.537.106.571 đồng (Sáu tỷ năm trăm ba bảy triệu một trăm linh sáu nghìn năm trăm bảy mốt đồng) và nợ lãi quá hạn là 3.166.350.381 đồng (Ba tỷ một trăm sáu sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn ba trăm tám mốt đồng).
Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số T297.10/HDTC3 ngày 29 tháng 9 năm 2010 để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng) và tiền lãi của Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn A, xã H, K, Hải Phòng (nay là Tổ dân phố số A, phường H, D, Hải Phòng). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 602327, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00269/QSDĐ/KT-22-Q1 ngày 25 tháng 11 năm 2004 cho hộ bà Phạm Thị K.
Khi xử lý tài sản đảm bảo để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bị đơn được thực hiện theo phương thức được nêu trong phần Quyết định của Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 24/2018/KDTM-PT ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ H5 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp.
Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ2 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng phải chịu 120.408.700 đồng (Một trăm hai mươi triệu bốn trăm linh tám nghìn bảy trăm đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí 59.800.000 đồng (Năm chín triệu tám trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0000763 ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo (chị Nguyễn Thu H) phải nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0010053, ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |
Bản án số 01/2025/KDTM-PT ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 01/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm
