TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 01/2025/KDTM-ST
Ngày: 23/01/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng
tín dụng, hợp đồng thế chấp tài
sản"
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Hoàn;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đinh Minh Tặng
- Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên
tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 02a/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 11 năm 2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử sơ thẩm số 465/TB-TA ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (sau đây viết tắt là Ngân hàng); địa chỉ trụ sở: số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Tạ An L, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhanh huyện N (Quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022);
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tạ An L: Ông Trần Xuân H, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhanh huyện N (có mặt);
- Bị đơn:
Ông Cao Thế H1, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt không có lý do);
Bà Lương Thị H2, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt không có lý do);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Cao Thanh C, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (Có mặt);
3.2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt không có lý do);
3.3. Anh Cao Tiến B, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn do ông Trần Xuân H đại diện trình bày:
Ngày 22/3/2022, ông H1, bà H2 có ký kết hợp đồng tín dung với ngân hàng số 3806-LAV-202200277, thỏa thuận theo báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022 vốn vay 2.000.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả là 10%/năm; thời hạn cho vay 10 tháng (tính từ ngày 22/3/2022 đến ngày 22/01/2023); mục đích vay bù đắp chi phí kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng và các chi phí liên quan khác. Phương thức trả nợ gốc chia làm một kỳ vào ngày 22/01/2023; lãi trả 06 tháng/lần vào ngày 30.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản vay của ông H1, bà H2 tại ngân hàng, vào ngày 13/6/2018, ông Cao Thanh C và bà Nguyễn Thị L1 có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 12062018-CTH/HĐTC. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 22 tờ bản đồ số 5 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 01986 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 29/5/2018 cho ông C, bà L1 và các tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng thế chấp nêu trên đều được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi vay cho đến ngày 10/01/2024, ông H1, bà H2 đã trả 0 đồng tiền gốc, 37.972.603 đồng tiền lãi. Hiện nay, khoản vay đã hết hạn, ông H1, bà H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ do đó, ngân hàng khởi kiện các vấn đề sau:
- Yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay tính đến ngày 23/01/2025 là 2.623.835.616 đồng của hợp đồng tín dụng số 3806-LAV-202200277 ngày 22/3/2022, giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022. Trong đó, tiền gốc là 2.000.000.000 đồng; tiền lãi phát sinh chưa trả là 623.835.616 đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng N1 yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 phải chịu thêm tiền lãi, chi phí phát sinh (nếu có) từ ngày 24/01/2025 cho đến khi tất toán hết khoản nợ.
- Yêu cầu xử lý tài sản mà ông Cao Thanh C, bà Nguyễn Thị L1 đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác số 12062018-CTH/HĐTC ngày 13/6/2018 ký kết giữa Ngân hàng N1 chi nhánh huyện M với ông Cao Thành C1, bà Nguyễn Thị L1, ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2.
Tài sản thế chấp: thửa đất số 22, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, diện tích 1.394m², hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 994m²; tài sản gắn liền với đất: nhà ở riêng lẻ, nhà cấp III, diện tích 220m², diện tích sàn 420m², tường gạch, khung, sàn bê tông cốt thép, mái lợp ngói.
Các bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Ngân hàng do ông Trần Xuân H đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay tính đến ngày 23/01/2025 là 2.623.835.616 đồng của hợp đồng tín dụng số 3806-LAV-202200277 ngày 22/3/2022, giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022. Trong đó, tiền gốc là 2.000.000.000 đồng; tiền lãi phát sinh chưa trả là 623.835.616 đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng N1 yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 phải chịu thêm tiền lãi, chi phí phát sinh (nếu có) từ ngày 24/01/2025 cho đến khi tất toán hết khoản nợ. Yêu cầu xử lý tài sản mà ông Cao Thanh C, bà Nguyễn Thị L1 đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác số 12062018-CTH/HĐTC ngày 13/6/2018 ký kết giữa Ngân hàng N1 chi nhánh huyện M với ông Cao Thaanh C2, bà Nguyễn Thị L1, ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2. Tài sản thế chấp: thửa đất số 22, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, diện tích 1.394m², hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 994m²; tài sản gắn liền với đất: nhà ở riêng lẻ, nhà cấp III, diện tích 220m², diện tích sàn 420m², tường gạch, khung, sàn bê tông cốt thép, mái lợp ngói.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Cao Thanh C trình bày: Ông với bà L1 đã ký kết hợp đồng thế chấp đất và nhà tại Ngân hàng cho anh H1 và chị H3 là con trai và con dâu để vay vốn tại Ngân hàng làm ăn buôn bán vật liệu xây dựng nay anh H1 và chị H2 làm ăn thua lỗ không đủ khả năng để trả tiền vay cho Ngân hàng bản thân ông bà cũng già cả đau ốm bệnh tật nên ông sẵn sàng giao toàn bộ tài sản thế chấp cho ngân hàng để giải quyết theo như hợp đồng đã ký kết.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Cao Tiến B trình bày: các tài sản anh B xây dựng trên đất đứng tên ông C và bà L1 được ông C và bà L1 tặng cho có lập biên bản tặng cho được trưởng thôn xác nhận nhưng không có công chứng tại chính quyền địa phương. Nay Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp có liên quan đến các tài sản của anh B, anh Ba K chấp nhận.
Ngày 06/11/2024 Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã tiến hành xem xét thẩm định tại chổ kết quả nhưu sau: trên thửa đất thế chấp số 22, tờ bản đồ số 5, Tọa lạc tại Thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình đứng tên ông Cao Thanh C và bà Nguyễn Thị L1 có một ngôi nhà cấp 3 của ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2. Phía Bắc thửa đất có 01 hàng rào xây bằng gạch, móng đá cao 5 mét, một phần của ngôi nhà cấp 4, mái che khung bằng sắt lợp tồn của anh Cao Tiến B, sinh năm 1986 em trai anh H1 xây dựng trên thửa đất thế chấp. Tổng diện tích mà nhà anh B xây dựng các công trình nhà, hàng rào, mái che lên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 5 đứng tên ông C bà L1 là 293.4m2.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 158, 164, 166, 463, khoản 2 Điều 470, Điều 317, 323 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 98 Luật tổ chức tín dụng và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện Ngân hàng N1
Buộc ông H1, bà H2 phải trả số tiền cả gốc và lãi cho Ngân hàng N1 số tiền tính đến ngày xét xử là: 2.623.835.616 đồng.
Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản mà ông Cao Thành C1 và bà Nguyễn Thị L1 đã ký hợp đồng thế cấp ngày 13/6/2018.
Về án phí: Ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 trả nợ theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kết, đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình nên Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý chính đáng. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngân hàng và ông H1 bà H2 đã ký kết hợp đồng tín dụng số 3806-LAV-202200277, thỏa thuận theo báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022 vốn vay 2.000.000.000 đồng. Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền vay gốc theo báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022 với số tiền 2.000.000.000 đồng, thời hạn cho vay 10 tháng (tính từ ngày 22/3/2022 đến ngày 22/01/2023). Do đó, có căn cứ xác định giữa ngân hàng và ông H1, bà H2 đã ký kết giao dịch dân sự thông qua hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ để ông H1, bà H2 thực hiện việc vay vốn tại ngân hàng. Hiện nay khoản vay đã hết hạn trả nợ gốc và lãi, phía ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông H1, bà H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên, ông H1 và H2 vi phạm nghĩa vụ và không thanh toán. Vì vậy, yêu cầu của ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: ông Cao Thanh C và bà Nguyễn Thị L1 đã đứng ra ký kết hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, diện tích 1.394m², hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 994m²; tài sản gắn liền với đất: nhà ở riêng lẻ, nhà cấp III, diện tích 220m², diện tích sàn 420m², tường gạch, khung, sàn bê tông cốt thép, mái lợp ngói. Việc ký kết này các bên đã lập hợp đồng thế chấp 12062018-CTH/HĐTC ngày 13/6/2018 nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho ông H1, bà H2 tại ngân hàng. Hợp đồng đảm bảo về hình thức, được công chứng, chứng thực, đã đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật. Bản thân ông C, bà L1 đã gửi ý kiến trình bày cho rằng hiện nay ông H1, bà H2 làm ăn thua lỗ, ông bà đã già yếu, không có thu nhập, nay ngân hàng khởi kiện và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì ông bà đồng ý giao cho Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ phân tích nêu trên, cho thấy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực. Vì vậy yêu cầu của ngân hàng là có căn cứ để Tòa án xem xét, chấp nhận.
Đối với các tài sản của anh Cao Tiến B xây dựng trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 05 tại thời điểm lập biên bản định giá tài sản thế chấp ngày 11/06/2018 giữa đại diện phía Ngân hàng và ông Cao Thanh C và bà Nguyễn Thị L1 không thể hiện các tài sản nêu trên. “Theo mục B. Tài sản gắn liền với đất, tiểu mục 4” có ghi. Các vật kiến trúc và tài sản khác đã được hình thành tại thời điểm thiết lập văn bản này nhưng chưa công nhận quyền sở hữu và các tài sản khác được bổ sung sau khi thế chấp làm tăng giá trị tài sản trên thửa dất nói trên mặc dù không định giá tài sản nhưng đều thuộc tài sản thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 tại A chi nhánh huyện M”. Anh B khai đất anh xây dựng nhà và hàng rào là được ông C và bà L1 tặng cho và ông tiến hành xây dựng nhà và hàng rào, tuy nhiện tại thời điểm đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan đăng ký đất đai để thế chấp tài sản cho khoản vay của anh H1 và chị H2 không thể hiện các tài sản nói trên của anh B nên không có căn cứ để giải quyết và Hội đồng xét xử căn cứ vào hợp đồng thế chấp đã ký kết để xử lý tài sản thế chấp.
[3] Về án phí:
[3.1] Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Ngân hàng đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000 đồng nên ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền này.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 30, 35, 39, 147, 157, 227, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 280, 293, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về yêu cầu ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền gốc và lãi số tiền là 2.623.835.616 đồng (Hai tỷ sáu trăm hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm mươi sáu đồng). Trong đó, tiền gốc là 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng) và tiền lãi phát sinh chưa trả là 623.835.616 đ (sáu trăm hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng).
Buộc ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ trả số tiền gốc và lãi phát sinh hợp đồng tín dụng số 3806-LAV-202200277, thỏa thuận theo báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ 3806-LDS-202200431 ngày 22/3/2022 cho Ngân hàng N số tiền gốc và lãi số tiền 2.623.835.616 đồng (Hai tỷ sáu trăm hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng). Trong đó, tiền gốc là 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng) và tiền lãi phát sinh chưa trả là 623.835.616 đ (sáu trăm hai mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp bản án có hiệu lực thi hành, phía ông H1, bà H2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phía ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản mà ông Cao Thanh C, bà Nguyễn Thị L1 đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác số 12062018-CTH/HĐTC ngày 13/6/2018 ký kết giữa Ngân hàng N1 chi nhánh huyện M với ông Cao Thành C1, bà Nguyễn Thị L1, ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2.
Tài sản thế chấp: thửa đất số 22, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, diện tích 1.394m², hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 994m²; tài sản gắn liền với đất: nhà ở riêng lẻ, nhà cấp III, diện tích 220m², diện tích sàn 420m², tường gạch, khung, sàn bê tông cốt thép, mái lợp ngói.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
3. Ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 phải chịu 84.476.712 đ (Tám mươi tư triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn bảy trăm mười hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh thương mại.
Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 39.000.000 đ (ba mươi chín triệu đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000602 ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
4 Về chi phí tố tụng khác: Ông Cao Thế H1 và bà Lương Thị H2 có nghĩa vụ trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng N với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
5 Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng - Hanh Hiền
