Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK R'LẤP

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST

Ngày 23-01-2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Văn Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nguyệt và ông Lê Thế Kỳ.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Chiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp tham gia phiên tòa: ông Phan Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 tại tỉnh Bến Tre; nơi thường trú: 112/XM, Ấp X, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre; nơi tạm trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B (đã chết); vợ là Nguyễn Thị P và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy M và bà Trần Thị H; vợ là Lê Thị Cẩm T3 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bị Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST, ngày 30/5/2023 (đã chấp hành xong ngày 23/6/2023); đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

3. Trần Ngọc V (tên gọi khác: S), sinh năm 1971 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B1 và bà Nguyễn Thị T4 (đều đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 27/10/2024, đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ – Có mặt.

Bị hại:

- Ông Chề Sắt T5, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

- Ông Vòng A N, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hồ A S1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

Người làm chứng:

- Bà Vòng Nàm K, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

- Bà Trần Nhì M1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 20/08/2024, Nguyễn Văn T gọi điện thoại hẹn Chề Sắt T5 đến sân bóng chuyền tại nhà ông Hồ A S1 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ để nói chuyện về khoản nợ 40.000.000 đồng T đã cho ông T5 mượn thì hai bên xảy ra tranh cãi, T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T2 (là anh vợ của T) đến sân bóng chuyền. Khi ông T5 nói với T việc tiền nong trong nhà do vợ giữ và xuống nhà để nói chuyện thì T điều khiển xe mô tô đến nhà ông T5 (cách sân bóng chuyền khoảng 200m), ông T5 đi bộ theo sau về nhà. T2 đang chơi cờ tướng với Trần Ngọc V ở nhà tại Bon Bù S, xã Đ thì T gọi điện thoại nói ra sân bóng chuyền, Trọng nghĩ là đi chơi bóng chuyền nên điều khiển xe mô tô chở V cùng đi. Khi đến sân bóng chuyền không thấy T nên T2 gọi điện thoại và được biết T đang ở nhà ông T5 nên chở V cùng đi đến nhà của ông T5. Khi thấy T và vợ chồng ông T5 to tiếng cãi nhau về khoản nợ thì T2 tham gia nói chuyện với bà Vòng Nàm K (vợ của ông T5) nhưng các bên vẫn tiếp tục tranh cãi nên T gọi điện thoại cho ông Hồ A S1 (là Phó trưởng thôn T) đến nhà của ông T5 nhờ đứng ra giải quyết. Khi T, T2 và vợ chồng ông T5 tranh cãi với nhau thì T dùng tay đấm khoảng 03 cái vào vùng đầu và mặt của ông T5 thì được T2, ông S1 và V can ngăn đẩy T ra ngoài sân và đẩy ông T5 đi vào trong nhà. Bà K thấy hai bên to tiếng cãi nhau, sợ xảy ra đánh nhau nên gọi điện thoại cho ông Vòng A N (là anh trai của bà K) đến để can ngăn; ông N lấy một cây tre (thường dùng làm cán cuốc ở nhà) đưa cho vợ là bà Trần Nhì M1 cầm rồi điều khiển xe mô tô chở bà M1 đến nhà ông T5; khi nghe bà K nói ông T5 bị T đánh thì N định lấy cây tre bà M1 đang cầm để đánh nhau thì bà M1 ném cây tre vào vườn cà phê và được mọi người can ngăn, đẩy hai bên ra. Trong khi can ngăn thì T2 dùng tay trái kẹp cổ của ông N kéo lùi về phía sau nhưng ông N vùng ra được nên dùng tay đánh nhau với T2 thì được mọi người can ngăn ra. Khi T tiếp tục chạy lại chỗ ông T5 đánh nhau thì ông N cũng chạy lại để đánh T nhưng bị T2 dùng chân đạp 01 cái trúng người. Ông T5 nhặt một khúc cây khô ở sân cầm lên định đánh nhau với T, thì ông N chạy lại giành lấy cây rồi cầm bằng hai tay đánh nhiều cái về phía T2; ông S1 đứng gần T2 nên can ngan và đưa tay trái lên đỡ thì bị ông N đánh trúng vào tay trái làm gãy cẳng tay; T2 bị ông N đánh trúng vào bả vai nên cũng nhặt một khúc cây cà phê khô (dài khoảng hơn 01m) đánh lại ông N. V cũng nhặt một khúc cây cà phê (dài khoảng 50cm) để đánh nhau, khi ông N bỏ chạy thì V ném khúc cây về phía ông N thì trúng vào vùng đầu. Cùng lúc này, ông T5 cũng nhặt một khúc gốc cây cà phê, Tân nhặt một khúc cây tre (loại cây lồ ô) đánh nhau qua lại, do khúc gốc cây cà phê nặng nên ông T5 chạy về phía hông nhà lấy một cây xà beng, quay lại đánh trúng vùng đầu khiến T ngã xuống sân và bị chảy máu; V thì bị ông T5 cầm xà beng đánh trúng vai và vùng lưng. T2 và ông N cũng sử dụng các khúc cây cà phê đánh nhau qua lại, V nhặt hai viên gạch vỡ ném một viên trúng vùng mặt của ông N, một viên ném trúng vào vùng đầu của ông T5; ông N tiếp tục nhặt khúc cây cà phê (loại cây thân đôi), T2 cầm khúc cây cà phê chạy lại để tiếp tục đánh nhau thì ông N bị T2 đánh trúng ngón tay út bên phải; sau đó ông N và ông T5 chạy về phía hiên nhà đứng cùng với bà K và bà M1, còn T2, T, V đứng ở ngoài sân. Hậu quả của việc đánh nhau khiến ông T5, ông N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2, Trần Ngọc V và ông S1 đều bị thương tích.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Bà Trần Thị M2 giao nộp 01 khúc cây khô, chiều dài 134cm, đường kính gốc 5,5cm, đường kính ngọn 4,5cm, trên thân cây không phát hiện dấu vết sinh học liên quan; 01 cây tuýp sắt (dạng xà beng), dài 1,1m, đường kính 3,5cm, đầu tuýp sắt hàn một thanh sắt dẹt dài 20cm, bản rộng nhất 6,5cm. Trên thân tuýp sắt bám dính tạp chất màu nâu đỏ (nghi là máu); 12 thanh tre của một cây tre khô, các thanh tre có chiều dài khác nhau, thanh dài nhất 180cm, thanh ngắn nhất 17cm; 01 viên gạch nung, màu đỏ, loại gạch 04 lỗ, viên gạch đã vỡ thành hai mảnh không rõ hình dạng; 01 áo thun màu trắng, trên thân áo bám dính tạp chất màu nâu đỏ (nghi là máu). Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường 01 gốc cây cà phê chiều dài 104cm, đường kính gốc 18cm, trên thân cây không phát hiện dấu vết sinh học liên quan; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Alhua 64BG.

Sau khi xảy ra vụ việc, các bị cáo đã cùng nhau góp tiền bồi thường cho ông T5 và ông N 20.000.000 đồng; ông N và ông T5 đã hỗ trợ, bồi thường cho ông Hồ A S1 5.000.000 đồng; Nguyễn Văn T hỗ trợ ông S1 2.000.000 đồng. Ông T5, ông N và ông S1 không ai yêu cầu bồi thường thêm; Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V không yêu cầu bồi thường.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 389/KLTTCT-TTPY ngày 25/9/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ (đối với ông Chề Sắt T5), kết luận: 01 sẹo phần mềm tại trán trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%. Vết sây sát da tại hông phải đã hết, không tạo sẹo trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Hội chẩn đọc lại phim CT-Scanner sọ não của Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Đắk Nông chụp ngày 20/8/2024 và Bệnh viện N1, thành phố H chụp ngày 22/8/20224 không thấy hình ảnh nứt xương sọ trên phim. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chề S2 Tày tại thời điểm giảm định là: 01% (một phần trăm). Các tổn thương trên cơ thể của Chề S2 Tày do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 387/KLTTCT-TTPY ngày 25/9/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ (đối với ông Vòng A N), kết luận: 01 sẹo phần mềm vùng thái dương trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; 01 sẹo phần mềm vùng đỉnh phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%, 01 sẹo phần mềm vùng đầu trong cung mày phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03% (sẹo vùng mặt; 01 sẹo phần mềm vùng đuôi cung mày trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03% (sẹo vùng mặt); 01 sẹo phần mềm vùng mi dưới mắt phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03% (sẹo vùng mặt); 01 sẹo phần mềm vùng cánh mũi trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03% (sẹo vùng mặt); Gãy đốt gần ngón V bàn tay phải, tỷ lệ 02%; Cứng khớp liên đốt gần - giữa ngón V bàn tay phải, tỷ lệ 01%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vòng A N tại thời điểm giám định là: 16% (mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Các tổn thương vùng đầu; mặt của Vòng A N do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên; Gãy xương đốt gần ngón V bàn tay phải của Vòng A do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 388/KLTTCT-TTPY ngày 25/9/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Đ (đối với Nguyễn Văn T), kết luận: 01 sẹo phần mềm vùng thái dương - đỉnh phải, kích thước trung bình, tỷ lệ 02%; Vết sưng nề, bầm tím vùng mắt trái và trầy xước da vùng da bả vai phải, mặt trong cẳng tay trái hiện tại đã hết, không tạo sẹo, trong Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019, của Bộ Y không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giảm định là: 02% (hai phần trăm). Các tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Văn T do vật tày và vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 385/KLTTCT-TTPY ngày 26/9/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Đ (đối với Nguyễn Văn T2), kết luận: Các vết bầm tím, sưng nề vùng đuôi mắt phải, mắt phải, gò má phải; sưng nề vùng đỉnh - chẩm; trầy xước bả vai phải, lưng, hông phải, đùi trái trong Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm). Tổn thương của Nguyễn Văn T2 do vật tày và vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 379/KLTTCT-TTPY ngày 26/9/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ (đối với Trần Ngọc V), kết luận: Vết bầm tím vùng lưng và vết xước da vùng cánh tay phải trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Ngọc V tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm). Tổn thương của Trần Ngọc V do vật tày và vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 390/KLTTCT-TTPY ngày 25/9/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Đ (đối với ông Hồ A S1), kết luận: 01 sẹo phần mềm mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; Gãy 1/3 dưới xương quay trái, can liền tốt, trục thẳng, không ngắn chi, chức năng cẳng tay tương đối bình thường, tỷ lệ 06%. Chỉ định X/quang xương cẳng tay trái. Hình ảnh hiện tại gãy 1/3 dưới xương quay trái đã can thiệp cố định xương. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ A S1 tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Gãy 1/3 dưới xương quay trái của Hồ A S1 do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Đối với hành vi của ông Chề Sắt T5 và ông Vòng A N dùng khúc cây cà phê và xà beng (là những hung khí nguy hiểm) gây thương tích 02% cho Nguyễn Văn T. Ngày 27/11/2024, Nguyễn Văn T rút yêu cầu khởi tố và Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã Quyết định đình chỉ điều tra đối với ông Chề Sắt T5 và ông Vòng A N theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ với mức phạt mỗi người 6.500.000 đồng.

Hành vi của ông V1 A N dùng khúc cây khô (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích 07% cho ông Hồ A S1 là vô ý (ông S1 bị thương tích khi can ngăn N đánh nhau với T2); quá trình điều tra ông S1 không yêu cầu khởi tố vụ án. Ông S1 là Thôn P1 và Tổ phó Tổ bảo vệ an ninh trật tự thôn T, xã Đ nhưng có mặt và bị thương tích khi được T nhờ tham gia giải quyết về khoản nợ, không thuộc trường hợp thi hành công vụ. Ông N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ với mức phạt 400.000 đồng.

Cáo trạng số: 01/CT-VKS-ĐL ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố; sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Trần Ngọc V từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách đối với mỗi bị cáo từ 04 năm đến 05 năm. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 khúc cây khô; 01 cây tuýp sắt (dạng xà beng); 12 thanh tre của một cây tre khô; 01 viên gạch loại 04 lỗ đã vỡ thành hai mảnh không rõ hình dạng; 01 áo thun màu trắng; 01 gốc cây cà phê. Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Alhua 64BG.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do mâu thuẫn về khoản nợ nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/08/2024, tại nhà ông Chề Sắt T5 (thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) giữa Nguyễn Văn T và vợ chồng ông Chề Sắt T5, bà Vòng Nàm K xảy ra tranh cãi. T dùng tay đấm vào mặt ông T5 thì được mọi người can ngăn; khi ông V1 A N đến và nghe nói ông T5 bị T đánh nên định dùng cây để đánh nhau với T thì được mọi người can ngăn. Trong quá trình can ngăn hai bên không kiềm chế được đã xảy ra đánh nhau giữa T, T2, V và ông T5, ông N làm hai bên đều bị thương tích. Trong đó, T, T2 và V sử dụng khúc cây cà phê, cây tre lồ ô và gạch (là những hung khí nguy hiểm) lấy tại sân nhà ông T5 để đánh nhau gây thương tích cho ông T5 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%, gây thương tích cho ông N với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%. Ông T5 và ông N dùng khúc cây cà phê và xà beng gây thương tích cho T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%; T2 và V bị thương tích với các vết bầm tím, trầy xước, sưng nề nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Trong quá trình can ngăn ông Hồ A S1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%, thương tích do ông N gây ra khi dùng khúc cây khô đánh nhau với T2, ông N không cố ý gây thương tích cho ông S1.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; hành vi của ông Chề Sắt T5 và ông V1 A N gây thương tích cho T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cãi tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3....".

Vì vậy, Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi gây thương tích của ông Chề Sắt T5, ông Vòng A N đối với bị cáo T đã được đình chỉ vụ án và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật nên không xem xét xử lý lại.

Hành vi của ông N gây thương thích cho ông S1 không phải do cố ý, quá trình điều tra ông S1 không yêu cầu khởi tố vụ án; thời điểm ông S1 bị thương tích không phải đang thi hành công vụ. Vì vậy, hành vi của ông N không cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” hoặc “Cố ý gây thương tích đối với người thi hành công vụ”.

Bà Vòng Nàm K gọi điện thoại cho ông V1 A N đến nhà là để căn ngăn do sợ các bên xảy ra đánh nhau, bà K không tham gia và không giúp sức khi các bên đánh nhau nên không đề cập giải quyết.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; hậu quả xảy ra có một phần lỗi của bị hại nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T có bố (ông Nguyễn Văn T1) là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, được nhà nước tặng bằng khen nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4]. Các bị cáo trong vụ án là đồng phạm nhưng không có người cầm đầu, không có sự phân công, phân nhiệm, không có sự câu kết chặt chẽ nên không mang tính tổ chức; thương tích gây ra cho bị hại xảy ra khi hai bên (bên bị cáo và bên bị hại) xảy ra xô xát và đánh nhau nên hành vi của các bị cáo không thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Vai trò và nhân thân của các bị cáo trong vụ án khác nhau nên cần phân hóa hành vi và nhân thân của các bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người có vai trò chính dẫn đến mâu thuẫn và đánh nhau với ông T5 trước. Bị cáo Trần Ngọc V cùng với T2 gây thương tích cho ông N, phần lớn các thương tích là do V gây nên. Vì vậy, hình phạt áp dụng đối với T và V cần cao hơn so với bị cáo T2, vai trò của T lớn hơn so với V nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn nên hình phạt áp dụng đối với T và V là như nhau. Giữa các bị cáo và bị hại có mối quan hệ quen biết và thường xuyên chơi bóng chuyền với nhau; hậu quả xảy ra có một phần lỗi của bị hại và có nhiều tính tiết giảm nhẹ nên xử phạt các bị cáo mức nhẹ nhất của khung hình phạt. Các bị cáo có nhân thân tốt (theo kết luận điều tra), có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình nên không cần cách ly các bị cáo với đời sống xã hội; áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Văn T2 có vai trò không đáng kể trong vụ án; ban đầu T2 chỉ tham gia can ngăn, không có mục đích đánh nhau, nhưng sau khi hai bên đánh nhau thì T2 không giữ được bình tĩnh nên đã dùng cây tham gia đánh ông N gây thương tích. Vì vậy, hình phạt áp dụng đối với bị cáo thấp hơn so với T và V; do bị cáo có nhân thân xấu nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[5]. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khúc cây khô; 01 cây tuýp sắt (dạng xà beng); 12 thanh tre của một cây tre khô; 01 viên gạch loại 04 lỗ đã vỡ thành hai mảnh không rõ hình dạng; 01 áo thun màu trắng; 01 gốc cây cà phê là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Alhua 64BG được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V (tên gọi khác: S) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.

      Xử phạt bị cáo Trần Ngọc V 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Trần Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  2. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.
  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 khúc cây khô; 01 cây tuýp sắt (dạng xà beng); 12 thanh tre của một cây tre khô; 01 viên gạch loại 04 lỗ đã vỡ thành hai mảnh không rõ hình dạng; 01 áo thun màu trắng; 01 gốc cây cà phê.

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 08/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp.)

  4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trần Ngọc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp;
  • - Công an huyện Đắk R'lấp;
  • - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk R'lấp;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Vũ Văn Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 01/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn về khoản nợ nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/08/2024, tại nhà ông Chề Sắt T5 (thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) giữa Nguyễn Văn T và vợ chồng ông Chề Sắt T5, bà Vòng Nàm K xảy ra tranh cãi. T dùng tay đấm vào mặt ông T5 thì được mọi người can ngăn; khi ông V1 A N đến và nghe nói ông T5 bị T đánh nên định dùng cây để đánh nhau với T thì được mọi người can ngăn. Trong quá trình can ngăn hai bên không kiềm chế được đã xảy ra đánh nhau giữa T, T2, V và ông T5, ông N làm hai bên đều bị thương tích. Trong đó, T, T2 và V sử dụng khúc cây cà phê, cây tre lồ ô và gạch (là những hung khí nguy hiểm) lấy tại sân nhà ông T5 để đánh nhau gây thương tích cho ông T5 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%, gây thương tích cho ông N với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%. Ông T5 và ông N dùng khúc cây cà phê và xà beng gây thương tích cho T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%; T2 và V bị thương tích với các vết bầm tím, trầy xước, sưng nề nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Trong quá trình can ngăn ông Hồ A S1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%, thương tích do ông N gây ra khi dùng khúc cây khô đánh nhau với T2, ông N không cố ý gây thương tích cho ông S1.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger