|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-01-2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
- Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lường Văn Độ.
- Bà Hoàng Thị Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cầm Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà:
Không.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024, về việc yêu cầu giải quyết ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị D, sinh năm 1998, số định danh cá nhân: 014198004885. Nơi cư trú: Bản K, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Tòng Văn X, sinh năm 1997, số định danh cá nhân: 014097007676. Nơi cư trú: Bản L, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 12 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình tố tụng chị Tòng Thị D trình bày:
Chị và anh Tòng Văn X kết hôn với nhau ngày 05/10/2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung hạnh phúc được một thời gian tại bản Liềng, xã P, huyện S.
Đến khoảng tháng 10 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm cuộc sống và tính cách không hợp. Sự việc đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 10/2019 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tòng Văn X.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Tòng Tâm L, sinh ngày 24/9/2018. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu L và không yêu cầu anh X phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị đơn anh Tòng Văn X trình bày:
Anh và chị Tòng Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Sơn La.
Về tình cảm, con cái, tài sản, nợ chung: Đúng như chị D trình bày, anh X cũng đồng ý ly hôn và chấp nhận để chị D nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền tố tụng:
- Bị đơn, anh Tòng Văn X có nơi cư trú tại bản Liềng, xã P, huyện S. Do vậy, Toà án huyện Sốp Cộp thụ lý và giải quyết là theo đúng quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Nguyên đơn chị Tòng Thị D khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Tòng Văn X. Vì vậy, xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn anh Tòng Văn X có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, nên Toà án căn cứ khoản 1 Điều 288 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh Tòng Văn X.
- Vụ án này, Toà án không tiến hành thu thập chứng cứ. Do đó, Kiểm sát viên không tham gia phiên toà là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Tòng Thị D và anh Tòng Văn X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Sơn La ngày 05/10/2018. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, thường xuyên cãi vã, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Năm 2019 chị Tòng Thị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại bản Kẻ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị D và anh X ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Chị D và anh X có 01 con chung là cháu Tòng Tâm L, sinh ngày 24/9/2018. Chị D nhận được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh X cấp dưỡng. Xét khả năng và điều kiện nuôi con, chị D có công việc làm ổn định và có thu nhập (Giáo viên). Hiện cháu L đang ở với chị D, được chị chăm lo và cho học hành ổn định. Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, anh X cũng nhất trí nhường quyền nuôi con chị D. Do vậy, Toà chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị Tòng Thị D.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con:
Chị D không yêu cầu, nên Toà không đề cập. Anh X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở và có quyền thay đổi biện pháp nuôi con theo quy định.
[5] Về tài sản chung; vay nợ chung:
Chị D và anh X đều xác nhận vợ chồng không có và không kê khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí:
Chị Tòng Thị D là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn án phí. Căn cứ Quyết định 861/QĐ-TTG, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do đó chị Tòng Thị D được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện giải quyết xin ly hôn của chị Tòng Thị D. Xử cho chị Tòng Thị D được ly hôn anh Tòng Văn X.
- Về con chung: Giao cháu Tòng Tâm L, sinh ngày 24/9/2018 cho chị Tòng Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Tòng Văn X có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Tòng Thị D được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Tòng Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2025); anh Tòng Văn X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về ly hôn
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tòng Thị Dượng xin ly hôn anh Tòng Văn Xiên
