Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIANG THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 01/2025/HS-ST

Ngày: 09-01-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Phước Lộc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Phúc và bà Trần Kim Ly

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Khương Hoài Thương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1990; nơi sinh: G- Kiên Giang; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1964; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; A, chị, em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1999 (bị cáo là con ba trong gia đình); Vợ/con: Bị cáo không có vợ con; Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa tiền sự)

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/9/2024, đến ngày 13/9/2024 bị khởi tố và bị chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 35/LTG-ĐTTH ngày 13/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang. Hiện bị cáo đang bị tạm giam. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Bà Thị Bé L, sinh năm 1996 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang
  • - Bà Huỳnh Thị T1 (Tên gọi khác Mỹ P), sinh năm 1980 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang
  • - Bà Lê Thị Huỳnh H1, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang
  • - Ông Châu R, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang
  • - Bà Phạm Cà P1, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang
  • - Bà Lâm Thị K, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang

* Người bào chữa cho bị cáo:

- Ông Trần Duy K1, sinh năm 1975 - Trợ giúp phiên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1990, thường trú tại ấp Đ, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang do không có nghề nghiệp ổn định, muốn có tiền tiêu xài thông qua việc thu nhập bất chính nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 09 giờ ngày 03/9/2024, Nguyễn Văn S đến nhà ông Nguyễn Quốc T tại ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang thì ông T tổ chức uống rượu, đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì S nghỉ uống và ngủ lại tại nhà ông T. Trong lúc uống rượu, S quan sát thấy ông T có để một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 68F1-097.51 tại gian nhà bếp, có gắn sẵn chìa khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. (Khoảng 00 giờ rạng sáng ngày 04/9/2024 khi thức dậy ăn cháo cùng ông T, sau khi ăn xong cả hai tiếp tục đi ngủ. Lúc này S quan sát thấy ông T có để một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 68F1-097.51 tại gian nhà bếp, có gắn sẵn chìa khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản). Khoảng 02 giờ 30 phút rạng sáng ngày 04/9/2024, lợi dụng lúc mọi người trong nhà ngủ say, S đi đến gian nhà bếp lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 68F1-097.51 nói trên rồi điều khiển xe trộm được đi tẩu thoát.

Đến ngày 06/9/2024, S điều khiển xe trộm được đến tiệm C1 tại khu phố N, thị

trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang bán cho bà Huỳnh Thị T1 được số tiền 15.000.000 đồng, rồi dùng số tiền này để mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biên kiểm soát 68C1-112.63, mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S và tiêu xài cá nhân.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đến ngày 13/9/2024, S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang khởi tố và ra lệnh tạm giam cho đến nay về hành vi trộm cắp tài sản.

(Bút lục 01, 02, 03, các bút lục 104-110, 111-114, 117-122, 127-128)

• Vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ trong vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1-112.63, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu xanh, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0334.318.xxx, đã qua sử dụng;
  • - 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), tiền Việt Nam do Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp số tiền này do bán tài sản trộm được (đã được niêm phong, gửi Kho bạc Nhà nước huyện G);
  • - 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu do hư hỏng, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 67D1-6884, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018157, tên chủ xe Lâm Thị K;
  • - 01 (một) giấy bán xe lập ngày 06/9/2024 của Cửa hàng xe máy (cầm đồ) Mỹ Phụng (lưu hồ sơ vụ án);
  • - 01 (một) chiếc ví da màu nâu, trên ví có in chữ VIP, BOSS và HUGO BOSS, đã qua sử dụng (đã trả cho chủ sở hữu)
  • - 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số AY145746 mang tên Nguyễn Quốc T (đã trả cho chủ sở hữu);
  • - 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Quốc T (đã trả cho chủ sở hữu);
  • - 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Thị Bé L (đã trả cho chủ sở hữu);
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ trắng đen, biển kiểm soát 68F1-097.51, đã qua sử dụng (đã trả cho chủ sở hữu);
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009604, tên chủ xe Nguyễn Quốc T (đã trả cho chủ sở hữu).

(Các bút lục 63-64, 65, 78, 84, 85, 86)

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 68F1-097.51 tại thời điểm trộm cắp có giá trị 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) (bút lục 38-39).

* Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T1 yêu cầu được nhận lại tài sản là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 68C1 – 112.63 và số tiền 6.500.000 đồng đã đưa cho bị cáo S (bút lục số 127-128)

* Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSGT ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 173: Tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tiếp tục giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng cũng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

01/ Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

02/ Về hình phạt:

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn S với hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù giam.

03/ Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S: 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu do hư hỏng, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 67D1-6884, đã qua sử dụng; Do bị cáo không sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Trả lại cho bà Huỳnh Thị T1:
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1-112.63, đã qua sử dụng;
  • + Số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), tiền Việt Nam do Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp số tiền này do bán tài sản trộm được (đã được niêm phong, gửi Kho bạc Nhà nước huyện G);
  • + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018157, tên chủ xe

Lâm Thị K;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu xanh, đã qua sử dụng; là khoản thu lợi mà bị cáo có được khi thực hiện hành vi phạm tội

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 (một) sim điện thoại (dạng sim vật lý) số 0334318155, đã qua sử dụng.

04/ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bà Huỳnh Thị T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

05/ Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo ông Trần Duy K1 phát biểu quan điểm như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với cáo trạng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bản thân không tranh luận về nội dung vụ án và thống nhất với tội danh và hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S. Chỉ đề nghị HĐXX, xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, luôn thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải. Về nhân thân của bị cáo trước đây thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa tiền án, tiền sự. Đồng thời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

N đề nghị HĐXX xem xét xác định là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng các điểm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình, cho bị cáo được hưởng mức án 12 tháng tù giam đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn S không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T1 không có ý kiến tranh luận.

Bị hại ông Nguyễn Quốc T; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thị Bé L, bà Lê Thị Huỳnh H1, ông Châu R, bà Phạm Cà P1, bà Lâm Thị K vắng mặt không có ý kiến tranh luận

Đ nời lời sau cùng bị cáo Nguyễn Văn S xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 35, Điều 37 và Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, Kiểm sát viên thu thập và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp quy định của bộ luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị hại ông Nguyễn Quốc T và người có quyền nghĩa vụ liên qua bà Thị Bé L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Huỳnh H1, ông Châu R, bà Phạm Cà P1 và bà Lâm Thị K đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, sự vắng mặt của họ không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, và việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Do lười lao động và muốn có tiền qua việc thu nhập bất chính, nên lợi dụng đêm khuya, tài sản không có người trông coi bị cáo Nguyễn Văn S đã lén lút, bí mật lấy trộm của ông Nguyễn Quốc T 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter

biến kiểm soát 68F1-097.51. Theo Bản kết luận định giá thì giá trị tài sản tại thời điểm trộm cắp là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng)

Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Khoản 1 Điều 173 quy định: “Tội trộm cắp tài sản”:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm khắc. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người khỏe mạnh, có đủ điều kiện và khả năng lao động để có thể chọn việc làm chân chính để tạo thu nhập vừa nuôi sống bản thân và phụ giúp cho gia đình nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Xét thấy, bị cáo đã nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản và đã bị xử phạt tù nhưng vẫn không từ bỏ con đường phạm tội. Do vậy, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo khỏi dời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục, cải tạo, răn đe để bị cáo trở thành công dân tốt; góp phần tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân và phòng ngừa chung trong xã hội. Đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Theo vị đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù giam và xử lý các vấn đề liên quan đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo từng có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” cụ thể:

Tiền án: Ngày 24/5/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 27/01/2013; Ngày 21/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 24/8/2017; Ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 31/01/2019; Ngày 25/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Giáo, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 28/11/2021 (04 tiền án đều đã được xóa án tích)

Tiền sự: Ngày 30/11/2015, bị Công an xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa tiền sự)

[6] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại ông Nguyễn Quốc Thanh vắng M tại phiên tòa nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên toà người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị T1 cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt

[7] Đối với bà Huỳnh Thị T1 là người đã trực tiếp mua tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nhưng quá trình điều tra xác định bà T1 không hay biết tài sản mua của bị cáo là do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xét.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án. HĐXX thấy có căn cứ để tuyên:

  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S: 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu do hư hỏng, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 67D1-6884, đã qua sử dụng; Do bị cáo không sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội
  • - Trả lại cho bà Huỳnh Thị T1:
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1-112.63, đã qua sử dụng;
  • + Số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), tiền Việt Nam do Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp số tiền này do bán tài sản trộm được (đã được niêm phong, gửi Kho bạc Nhà nước huyện G);
  • + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018157, tên chủ xe Lâm Thị K;
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu xanh, đã qua sử dụng; là khoản thu lợi mà bị cáo có được khi thực hiện hành vi phạm tội
  • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 (một) sim điện thoại (dạng sim vật lý) số 0334318155, đã qua sử dụng.
  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) giấy bán xe lập ngày 06/9/2024 của cửa hàng xe máy (cầm đồ) Mỹ Phụng.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người liên quan không yêu cầu nên không xét.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S: 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu do hư hỏng, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 67D1-6884, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bà Huỳnh Thị T1:
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 68C1-112.63, đã qua sử dụng;
  • + Số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), tiền Việt Nam do Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp số tiền này do bán tài sản trộm được (đã được niêm phong, gửi Kho bạc Nhà nước huyện G);
  • + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018157, tên chủ xe Lâm Thị K;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 01 (một) sim điện thoại (dạng sim vật lý) số 0334318155, đã qua sử dụng.

4. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND h. Giang Thành;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (PV27);
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Cơ quan CSĐT CA h. GT;
  • - Chi cục THADS h.GT;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Phước Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sừng tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger