TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày 06 tháng 11 năm 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lil và bà Cù Thị Ngọc Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Huy Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 251/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 208/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 và Thông báo dời thời gian xét xử số 24/TB-TA ngày 22 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 07, ấp H, xã T, thị xã M, tỉnh V Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo V, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 16, ấp A, xã V, thị xã D, tỉnh An Giang.
Chị H có mặt; anh V vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 2009, chị H và anh V tự tìm hiểu, quen nhau, thống nhất tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2018 thì chị H và anh V đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh V Long theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24 ngày 29/3/2018. Sau khi cưới, chị H và anh V sống bên gia đình anh V, đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không hòa thuận với mẹ chồng nên thường xảy ra cự cãi nhau, sau đó chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Từ đó, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, chị H yêu cầu được ly hôn với anh V.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010, hiện cháu T đang sống và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh V không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 461/TB-TLVA ngày 24/6/2024 và các văn bản tố tụng khác cho anh V nhưng anh V vắng mặt ở địa phương, không có văn bản ý kiến phản hồi cho Toà án, Tòa án tiến hành niêm yết văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã thu thập chứng cứ: xác minh tình trạng hôn nhân, con chung của chị H và anh V tại Văn phòng ấp Phú An A; ghi nhận ý kiến nguyện vọng con chưa thành niên, cụ thể:
- Văn phòng ấp Phú An A cung cấp: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bảo V tự tìm hiểu, quen nhau, thống nhất tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Đến khoảng năm 2019, chị H và anh V sống tại nhà anh V và phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không hòa thuận và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không thấy vợ chồng qua lại với nhau.
Về con chung, vợ chồng chị H và anh V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010, hiện cháu T đang sống và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
Về tài sản chung và nợ chung của chị H và anh V thì không nắm.
- Ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc Thanh T: Cháu T là con ruột của ông Nguyễn Bảo V và bà Nguyễn Thị H, hiện cháu T đang sống với chị H và và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu cha mẹ được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì cháu T có nguyện vọng sống với mẹ Nguyễn Thị H.
Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh V và yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Bảo V.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010. Anh Nguyễn Bảo V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Bảo V. Anh V có nơi cư trú tại ấp A, xã V, thị xã D, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Bảo V được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng lần hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh V tự tìm hiểu, quen nhau, thống nhất tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh V Long theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24 ngày 29/3/2018 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Chị H khai, sau khi cưới, chị H và anh V sống bên gia đình anh V, đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không hòa thuận với mẹ chồng nên thường xảy ra cự cãi nhau, sau đó chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Từ đó, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, chị H yêu cầu được ly hôn với anh V.
Theo kết quả xác minh tại Văn phòng ấp Phú An A, xã Phú V, chị H và anh V tự tìm hiểu, quen nhau, thống nhất tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Đến khoảng năm 2019, chị H và anh V sống tại nhà anh V và phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không hòa thuận và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không thấy vợ chồng qua lại với nhau.
Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị H và anh V hàn gắn tình cảm nhưng anh V vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng chị H và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị H ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: chị H khai, trong thời kỳ hôn nhân, giữa chị H và anh V có 01 (một) chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010. Cháu T đang sống và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Theo kết quả xác minh tại Ban ấp Phú An A, xã Phú V: chị H và anh V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010. Hiện cháu T đang sống và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
Ý kiến nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngọc Thanh T: Hiện cháu T đang sống với mẹ (Nguyễn Thị H) và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu cha mẹ được Tòa án giải quyết ly hôn thì cháu T có nguyện vọng sống với chị Nguyễn Thị H.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và nguyện vọng của con, cuộc sống, điều kiện của cháu T cũng ổn định. Xét, giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị H khai, không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Anh V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Bảo V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 24 được Uỷ ban nhân dân xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh V Long cấp ngày 29/3/2018 cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bảo V không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Nguyễn Bảo V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Nguyễn Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Bảo V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007990 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Anh Nguyễn Bảo V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của anh V là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào năm 2009, chị H và anh V tự tìm hiểu, quen nhau, thống nhất tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2018 thì chị H và anh V đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh V Long theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24 ngày 29/3/2018. Sau khi cưới, chị H và anh V sống bên gia đình anh V, đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không hòa thuận với mẹ chồng nên thường xảy ra cự cãi nhau, sau đó chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Từ đó, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, chị H yêu cầu được ly hôn với anh V. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/12/2010, hiện cháu Tđang sống và được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh V không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
