Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 05 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh, ông Hoàng Quang Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Ông Sùng A T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường và cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam công an tỉnh L.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Tam Đường và điểm cầu thành phần tại phòng xử thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đối với vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 15/10/1989; Nơi sinh: huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lò Văn P, sinh năm 1966 và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Lò Thị D, sinh năm 1992 và 02 con;

Tiền án: 02 tiền án.

Ngày 12/03/2016, Lò Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu căn cứ khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Lò Văn H phải bồi thường cho bị hại 24.000.000 đồng. Đến ngày 08/11/2016, Lò Văn H chấp hành xong án phạt tù. Tuy nhiên, đến thời điểm phạm tội ngày 18/6/2024, bị can chưa thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Ngày 27/6/2020, Lò Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Lò Văn H phải bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng. Đến ngày 25/6/2022, bị can chấp hành xong án phạt tù. Tuy nhiên, đến thời điểm phạm tội ngày 18/6/2024, bị can chưa được xóa án tích và chưa thực hiện xong nghĩa vụ dân sự.;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 20/9/2010, Lò Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu căn cứ khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm p, h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến thời điểm phạm tội ngày 18/6/2024, bị can đã được xóa án tích theo quy định.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa (Điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh L).

2. Vàng Văn Ó, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 10/12/1993; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vàng Văn K, sinh năm 1944 và bà Lò Thị B, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là La Thị U, sinh năm 1998 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa (Điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh L).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Lò Thị D, sinh năm 1992, trú tại bản Na Sái, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 17/06/2024, Lò Văn H mượn điện thoại của anh trai là Lò Văn V, sinh năm 1986, cùng trú tại bản Na Sái, xã N, huyện S gọi điện thoại cho Vàng Văn Ó nhờ Ó tìm chỗ mua hộ 10.000.000 đồng ma tuý để H sử dụng và bán kiếm lời. Ó đồng ý, sau đó Ó gọi điện cho một người đàn ông tên B1, trú tại xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu hỏi mua ma tuý. Do chưa có ma túy nên B1 hẹn Ón đến ngày 18/6/2024. Sau khi gọi cho B1 xong Ó gọi cho H thông báo ngày hôm sau mua được ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 18/6/2024, Lò Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX biển kiểm soát 25AS-006.10 (xe mô tô là tài sản chung của Lò Văn H và vợ Lò Thị D, sinh năm 1992, trú tại bản Na Sái, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu) chở anh trai Lò Văn V1 đến nhà Vàng Văn Ó và ở đây chơi. Đến khoảng 12 giờ, cùng ngày người đàn ông tên B1 gọi điện thông báo đã có ma tuý và hỏi Ó mua bao nhiêu, Ó bảo lấy 10.000.000 đồng. Do hẹn mua được ma túy nên Ó thông báo cho H biết và bảo H khi mua được ma túy thì cho Ó xin một ít để sử dụng, H đồng ý.

Khoảng 13 giờ, ngày 18/6/2024 Ó điều khiển xe mô tô BKS 25AS-006.10 (xe của H) chở H đến nhà B1 ở bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Đến nhà B1, H lấy 10.000.000 đồng ra đếm xong để trên đệm giường phòng ngủ của B1, Vàng Văn Ó cầm tiền lên đếm lại rồi đưa tiền cho B1, Bích đếm đủ 10.000.000 đồng rồi cầm tiền đi đâu, làm gì Ó và H không biết. Khoảng 01 tiếng sau B1 quay lại cầm một gói nilon màu hồng và một túi nilon màu xanh. B1 mở gói nilon màu hồng ra bên trong có 02 (hai) gói Heroine, một gói được gói ngoài bằng nilon màu xanh xoắn lại đốt dính một đầu; gói còn lại được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng xoắn lại đốt dính một đầu. Bích mở gói ma tuý được gói bằng nilon màu xanh lấy một ít ma tuý vụn ra cho ba người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H lấy túi nilon màu xanh mà B1 cầm lúc trước gói lại gói ma túy xoắn một đầu, đưa cho Ó lấy bật lửa đốt dính lại. Sau đó, H cho 02 gói Heroine vừa mua được vào ví, cầm bằng tay trái để trên đùi và ngồi sau xe mô tô để Ó chở về xã T, huyện T.

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, khi H và Ó đang đi trên tỉnh lộ 130 đoạn thuộc bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an xã T, Công an xã B, huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 gói chất bột màu trắng, một gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh xoắn lại đốt dính một đầu, một gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng xoắn lại đốt dính một đầu; 01 xe máy BKS 25AS-006.10; 01 ví cầm tay màu nâu; 01 điện thoại OPPO A12, cảm ứng, lưng màu xanh da trời, ốp màu đen; 01 điện thoại OPPO A15, cảm ứng, lưng màu trắng

Kết luận giám định số 43/KLGĐ ngày 19/6/2024 của giám định viên theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh L đã khẳng đinh: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn H và Vàng Văn Ó là chất ma túy, loại: Heroine có tổng khối lượng 12,685 gam.

Bản cáo trạng số: 60/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 và bị cáo Vàng Văn Ó về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại 01 xe máy BKS 25AS-006.10 do là tài sản chung của vợ chồng.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn H và Vàng Văn Ó phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt:

  • - Đề nghị áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.
  • - Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng Văn Ó từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 12,554 gam Heroine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định 0,131 gam; các mảnh nilon gói vật chứng ban đầu và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 ví cầm tay màu nâu có khóa kéo.
  • - Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 (một) xe máy Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 25AS-006.10 số máy JA53E0012321, số khung RLHJA3881RY002321; 01 (một) điện thoại OPPO A15, cảm ứng, lưng màu trắng, số IMEI 1: 86561305048840871 số IMEI 2: 865613058840863. Điện thoại có gắn 02 sim V2, số thuê bao sim 1: 0332681696, số thuê bao sim 2: 0866444918
  • - Trả lại cho bị cáo Lò Văn H 01 (một) điện thoại OPPO A12, cảm ứng, lưng màu xanh da trời, ốp màu đen, số IMEI 1: 864036041993238, số IMEI 2: 864036041993220. Điện thoại có gắn theo 1 sim V2, số thuê bao 0399328705.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do thu nhập không ổn định sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí cho các bị cáo theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, tại tỉnh lộ 130 đoạn thuộc bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu Lò Văn H và Vàng Văn Ó đang tàng trữ trái phép 12,685 gam Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã T phối hợp với Công an xã B, huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Các bị cáo khai nguồn gốc số Heroine trên là mua của Lò Văn B1 với giá 10.000.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo Vàng Văn Ó đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn H ngày 27/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 19/2020/HSST ngày 27/6/2020, bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, tại thời điểm phạm tội chưa được xoán án tích. Do đó bị cáo H phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình; Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn đây. Bị cáo Ó có bố và ông Vàng Văn K là cựu chiến binh đã từng tham gia dân công hỏa tuyến được quân đội xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Bị cáo Vàng Văn Ó không có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Bị cáo Lò Văn H có nhân thân xấu, năm 2010 đã bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích. Hươi có 02 tiền án đều về tội trộm cắp tài sản.

Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo H là người khởi xướng, bỏ tiền ra để mua Heroine. Ó là người tìm người bán H1, cả 02 cùng đi mua Heroine cho H để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do thu nhập không ổn định sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Các bị cáo thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 12,554 gam Heroine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định 0,131 gam; các mảnh nilon gói vật chứng ban đầu và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 ví cầm tay màu nâu có khóa kéo. Đây là những vật cấm lưu hành, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy

01 (một) xe máy Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 25AS-006.10 số máy JA53E0012321, số khung RLHJA3881RY002321; 01 (một) điện thoại OPPO A15, cảm ứng, lưng màu trắng, số IMEI 1: 86561305048840871 số IMEI 2: 865613058840863. Điện thoại có gắn 02 sim V2, số thuê bao sim 1: 0332681696, số thuê bao sim 2: 0866444918. Đây là những công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước. Do đó, yêu cầu của người liên quan không được chấp nhận.

Trả lại cho bị cáo Lò Văn H 01 (một) điện thoại OPPO A12, cảm ứng, lưng màu xanh da trời, ốp màu đen, số IMEI 1: 864036041993238, số IMEI 2: 864036041993220. Điện thoại có gắn theo 1 sim V2, số thuê bao 0399328705 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[5] Về án phí: Các bị cáo tại phiên tòa xin được miễn án phí do sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội, thuộc hộ nghèo. Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo theo quy định.

[6] Đối với đối tượng Lò Văn B1, theo lời khai của các bị cáo, nguồn gốc số Heroine bị thu giữ của các bị là do mua của B1, hiện B1 trốn không có mặt tại địa phương nên chưa đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với B1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, q khoản 2 Điều 251 (Đối với Lò Văn H); điểm i khoản 2 Điều 251 (Đối với Vàng Văn Ó); Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm a, c Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

1/ Tuyên bố bị cáo Lò Văn H và Vàng Văn Ó phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

2/ Xử phạt bị cáo Lò Văn H 10 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn Ó 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

3/ Xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 12,554 gam Heroine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định 0,131 gam; các mảnh nilon gói vật chứng ban đầu và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 ví cầm tay màu nâu có khóa kéo.

Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 (một) xe máy Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 25AS-006.10 số máy JA53E0012321, số khung RLHJA3881RY002321; 01 (một) điện thoại OPPO A15, cảm ứng, lưng màu trắng, số IMEI 1: 86561305048840871 số IMEI 2: 865613058840863. Điện thoại có gắn 02 sim V2, số thuê bao sim 1: 0332681696, số thuê bao sim 2: 0866444918.

Trả lại cho bị cáo Lò Văn H 01 (một) điện thoại OPPO A12, cảm ứng, lưng màu xanh da trời, ốp màu đen, số IMEI 1: 864036041993238, số IMEI 2: 864036041993220. Điện thoại có gắn theo 1 sim V2, số thuê bao 0399328705

4/ Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - CQCSĐTCA huyện Tam Đường;
  • - CQTHAHS CA H. Tam Đường;
  • - CCTHADS huyện Tam Đường;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Trung Tá

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger