Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31-10-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mùa Thị Mỷ.
  2. Ông Hoàng Minh Xuân.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Loan – Kiểm Sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2024. Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Thào Lao L - Sinh năm 1987.
  2. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.

    Hiện nguyên đơn đang bị tạm giữ, tạm giam tại Công an tỉnh Đ, theo quyết định khởi tố bị can số 98/QĐ-CSMT ngày 20/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ. Nguyên đơn vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  3. Bị đơn: Chị Giàng Thị D - Sinh năm 1992.
  4. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.

    Bị đơn hiện vắng mặt tại nơi cư trú. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 09/05/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Thào Lao L trình bày:

Anh và chị Giàng Thị D lấy nhau có ĐKKH ngày 06/7/2020 tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La và được hai gia đình tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn anh chị sống riêng tại bản Co Lắc, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai bên thường xảy ra cãi vã xô xát, cuộc sống không có tiếng nói chung, mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Đến cuối tháng 4/2024 chị D bỏ về nhà mẹ đẻ tại xã V, hai bên ly thân từ đó đến nay. Nay thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa, anh đề nghị xin được ly hôn với chị Giàng Thị Dai .

Về con chung: Có 01 con chung, cháu tên là Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020, hiện cháu đang ở với bố. Nếu được ly hôn anh nhận trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu, không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 15/05/2024 bị đơn chị Giàng Thị D trình bày:

Chị và anh Thào Lao L tìm hiểu yêu đương và kết hôn với nhau ngày 06/7/2020 được UBND xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La cấp giấy ĐKKH và có cưới xin theo phong tục tập quán địa phương, sau khi kết hôn anh chị sống tại bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Tời gian đầu chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã không có tiếng nói chung, sau khi xảy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành, nay anh Thào Lao L có đơn xin ly hôn chị nhất trí vì hai bên không còn tình cảm với nhau.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020 hiện nay cháu đang ở với anh Thào Lao L, nếu ly hôn đề nghị để hai bên tự thỏa thuận về việc nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án sau khi Tòa án triệu tập hòa giải nhiều lần nhưng nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Tòa án nhân dân huyện Yên Châu đã tiến hành xác minh về sự có mặt, vắng mặt tại nơi cư trú của nguyên đơn và bị đơn kết quả như sau:

Tại biên bản xác minh ngày 17/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu đối với ông Tếnh Lao S - bí thư, trưởng bản bản Co Lắc, xã C và ông Thào Lao G, người nhà của anh Thào Lao L, trú tại bản Co Lắc, xã C cho biết: Anh Thào Lao L sinh năm 1987. Và chị C Giàng Thị D sinh năm 1992. Có đăng ký hộ khẩu tại: Bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Anh chị có đăng ký kết hôn ngày 06/7/2020 tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La và có 01 con chung tên Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020.

Hiện nay anh Thào Lao L không có mặt tại địa phương do ngày 17/6/2024 bị Công an tỉnh Đ bắt và khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy, hiện đang bị tạm giam tại Công an tỉnh Đ.

Chị Giàng Thị D không có mặt tại địa phương do sau khi ly thân với anh Thào Lao L, chị D đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại bản Chiềng Đi 2, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La.

Hiện anh chị chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác.

Ngày 12/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu có công văn số 90/CV-TA về việc đề nghị tống đạt và lấy lời khai của đương sự đang bị bắt tạm giữ, tạm giam cho Công an tỉnh Đ đề nghị Công an tỉnh Đ lấy lời khai của Thào Lao L hoặc yêu cầu anh Thào Lao L viết bản tự khai theo nội dung sau: Anh Thào Lao L có giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Giàng Thị D và các yêu cầu khác như trong đơn khởi kiện và bản tự khai đã nộp cho Tòa án nhân dân huyện Yên Châu không? Hay đề nghị rút yêu cầu khởi kiện? Nếu trường hợp giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh Thào Lao L có đồng ý để TAND huyện Yên Châu giải quyết ly hôn vắng mặt anh không? Nếu đồng ý đề nghị Công an tỉnh Đ hướng dẫn anh Thào Lao L viết ý kiến tại bản tự khai hoặc viết đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngày 27/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu nhận được bản tự khai của anh Thào Lao L do Công an tỉnh Đ gửi, nội dung tự khai anh Thào Lao L đề nghị giữ nguyên đề nghị xin được ly hôn chị Giàng Thị D, không có yêu cầu khác, và đề nghị xin được giải quyết vắng mặt do đang bị tạm giam, tạm giữ tại công an tỉnh Đ.

Ngày 29/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và làm thủ tục niêm yết công khai quyết định xét xử theo quy định của pháp luật. Ngày 15/10/2024, tại phiên tòa bị đơn chị Giàng Thị D vắng mặt không có lý do, hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lại ngày xét xử vụ án là ngày 31/10/2024. Tòa án nhân dân huyện Yên Châu đã tiến hành niêm yết quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị đơn tiếp tục vắng mặt lần 2 không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm; các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Do anh Thào A L1 và chị Giàng Thị D lấy nhau có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng đã không còn, Anh Tếnh Lao C1 có đơn đề nghị yêu cầu ly hôn, chị C2 đồng ý, quá trình giải quyết vụ án anh Thào A L1 hiện đang bị tạm giữ tạm giam tại Công an tỉnh Đ và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Chị Giàng Thị D vắng mặt khỏi nơi cư trú, Tòa án nhân dân huyện Yên Châu đã tiến hành niêm yết quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thào Lao L, cho anh Thào Lao L được ly hôn chị Giàng Thị Dai .

Về con chung: Do anh Thào Lao L đang bị tạm giam, tạm giữ tại Công an tỉnh Đ, không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020 cho mẹ là chị Giàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành 18 tuổi, có khả năng lao động. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị D.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với nợ chung: Không có, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do nguyên đơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Anh Thào Lao L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với chị Giàng Thị D, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Giàng Thị D có nơi cư trú cuối cùng trước khi vắng mặt tại nơi cư trú là bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Yên Châu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
  3. Nguyên đơn anh Thào Lao L vắng mặt tại phiên tòa do đang bị tạm giam tạm giữ tại công an tỉnh Đ, nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có bản tự khai ngày 25/9/2024. Bị đơn chị Giàng Thị D vắng mặt không có lý do 02 lần tại phiên tòa, nhưng đã có biên bản ghi lời khai ngày 15/5/2024, đồng thời Tòa án nhân dân huyện Yên Châu đã niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Theo nguyên đơn và bị đơn trình bày, Anh L và chị D kết hôn trên tinh thần tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc, có tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán và có ĐKKH ngày 06/7/2020 tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại bản Co Lắc, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La, cuộc sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Xét thấy tình cảm không còn, anh Thào Lao L xin được ly hôn với chị Giàng Thị Dai . Việc anh chị có đăng ký kết hôn làm phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, hai anh chị không có ý định tái hợp. Mâu thuẫn giữa anh chị đã thực sự trầm trọng. Nay anh L có đề nghị được ly hôn, chị D đồng ý. Ngày 17/6/2024 anh L bị Công an tỉnh Đ bắt và khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy, hiện đang bị tạm giam tại Công an tỉnh Đ, anh L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị D và không có ý kiến khác. Xét thấy đã đủ căn cứ để cho hai bên được ly hôn khi hai bên mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thào Lao L, cho anh Thào Lao L được ly hôn chị Giàng Thị Dai .
  2. Về con chung:
  3. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, anh Thào Lao L có ý kiến xin được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là cháu Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con cùng. Tại biên bản ghi lời khai, chị Giàng Thị D có ý kiến: Đối với vấn đề con chung đề nghị hai bên tự thỏa thuận. Hội đồng xét xử xét thấy, do anh Thào Lao L đang bị bắt và khởi tố, đồng thời bị tạm giữ tạm giam về tội mua bán trái phép chất ma túy, hiện đang bị tạm giam tại Công an tỉnh Đ, trong thời điểm hiện tại anh L không thể đảm bảo việc nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Mặt khác cháu Thào Thị N là con gái, đang còn nhỏ tuổi cần sự chăm sóc và giáo dục của mẹ. Việc giao cháu Thào Thị N cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ phù hợp hoàn cảnh thực tế và quy định của pháp luật.

    Do đó căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh L về con chung. Giao con chung là cháu Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020 cho mẹ là chị Giàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành 18 tuổi, có khả năng lao động.

    Anh Thào Lao L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, có quyền yêu cầu về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh L đang bị bắt tạm giam tạm giữ, chưa có kết quả giải quyết vụ án, không thể cấp dưỡng nuôi con cùng chị D nên Hội đồng xét xử quyết định anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

  4. Về tài sản chung: Anh L và chị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về khoản nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  7. Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu là phù hợp nên HĐXX chấp nhận toàn bộ ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81 ,82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 24, Đ a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thào Lao L.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thào Lao L được ly hôn chị Giàng Thị Dai .
  3. Về con chung: Giao con chung là cháu Thào Thị N sinh ngày 16/3/2020 cho mẹ là chị Giàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành 18 tuổi, có khả năng lao động. Anh Thào Lao L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Anh Thào Lao L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, có quyền yêu cầu về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ.

  5. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
  6. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Thào Lao L.
  8. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Yên Châu;
  • - UBND xã Chiềng Tương, huyện Yên Châu;
  • - Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử cho anh Thào Lao L ly hôn chị Giàng Thị G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger