|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày 30 - 10 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC-TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn;
Ông Nguyễn Thanh An;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-KDTM ngày 13 tháng 12 năm 2023; về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST- KDTM ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1;
Địa chỉ trụ sở: Số A, đường V, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 có ông Hà Huy H; cư trú tại: Số A, đường H, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 10 năm 2023 (có mặt).
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ;
Địa chỉ trụ sở: Số A, ngõ F, phố N, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Tầng B, số C, đường V, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số I, đường N, phường Q, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Công K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường số F, khu đô thị N, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần T2;
Địa chỉ trụ sở: Tầng A, Tòa nhà F, số B Bis M, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn phòng tại C: Số B, đường Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Nhà điều hành Khu đô thị F, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đình C, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền cho Công ty Cổ phần T2 có ông Nguyễn Đình H1; cư trú tại: Số E C H, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 02 năm 2024 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn ông Hà Huy H trình bày:
Ngày 22 tháng 3 năm 2016, Công ty Cổ phần T1 (gọi tắt Công ty T1) và Công ty Cổ phần Đ có ký Hợp đồng thi công xây dựng số 05/HĐGK/HT2016, để nhận thầu thi công “Xây dựng 06 căn nhà liền kề, 02 căn nhà biệt thự song lập”, thuộc dự án Khu đô thị N, giai đoạn 1: 39,5 ha, tại địa chỉ xã P, huyện C, tỉnh Long An trên cơ sở Hợp đồng số 21.03/2016/HĐXL/FSG-HT, ngày 21 tháng 3 năm 2016 giữa Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt Công ty T2) với Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt Công ty Đ).
Thực tế Công ty T1 là nhà thầu phụ của Công ty Đ nhà thầu chính, thực hiện công việc: Công ty T1 tự lo vốn, vật tư, nguyên vật liệu và nhân công để thi công. Sau khi hoàn thành các hạng mục Công ty T1 gửi hồ sơ cho Công ty Đ, Công ty Đ sẽ gửi tiếp hồ sơ cho Công ty T2 để Công ty T2 thanh toán. Sau đó, Công ty Đ mới thanh toán lại cho Công ty T1, sau khi trừ đi phần Công ty Đ được hưởng.
Sau khi ký hợp đồng thì Công ty T1 đã tiến hành thi công xây dựng các hạng mục theo đúng thỏa thuận và công việc đã thực hiện xong.
Tổng số tiền Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty T1 là 6.741.550.387 đồng (trong đó, có số tiền đã xuất 03 hóa đơn giá trị gia tăng là 6.389.308.315 đồng, số tiền 352.242.072 đồng khối lượng phát sinh chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng).
Sau khi Công ty T1 đã thực hiện xây dựng xong 06 căn nhà liền kề, 02 căn nhà biệt thư song lập theo mẫu, thuộc dự án Khu đô thị N thì Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty T1 được số tiền 4.855.000.000 đồng, còn lại số tiền 1.886.550.387 đồng Công ty Đ chưa thanh toán. Mặc dù, Công ty T1 liên tục nhắc nhở và yêu cầu Công ty Đ đối chiếu công nợ và thanh toán số tiền nợ nêu trên (bằng văn bản, qua điện thoại) nhưng cho đến nay Công ty Đ không thực hiện, mà trốn tránh.
Do Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T1 khởi kiện ban đầu là yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tiền là 3.871.289.377 (Ba tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm tám mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi bảy) đồng, bao gồm:
- + Tiền vốn là 1.886.550.387 đồng (trong đó 1.534.308.315 đồng khối lượng Công ty T1 có xuất hóa đơn giá trị gia tăng, còn số tiền 352.242.072 đồng khối lượng phát sinh chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng).
- + Tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 30/9/2023 là 1.914.738.990 đồng. Đồng thời, còn yêu cầu Công ty Đ tiếp tục trả lãi chậm thanh toán từ ngày 01/10/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án cho rút phần đối với việc yêu cầu Công ty Đ trả số tiền 352.242.072 đồng. Yêu cầu Công Ty Đ phải trả ngay cho Công ty T1 số tiền 3.135.731.323 đồng (bao gồm: Công nợ gốc 1.534.330.315 đồng, tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2018, chỉ tính đến Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm (ngày 28/10/2024) với lãi suất 10%/năm là 1.601.401.008 đồng.
Trường hợp Công ty Cổ phần Đ chậm thi hành án thì phải chịu lãi chậm thi hành án theo quy định.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Đình H1 người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T2 không có mặt nhưng tại phiên hòa giải ông H1 trình bày: Đúng là giữa Công ty T2 và Công ty Đ có ký Hợp đồng số 21.03/2016/HĐXL/FSG-HT, ngày 21 tháng 3 năm 2016, để Công ty Đ thi công xây dựng 06 căn nhà liền kề, 02 căn nhà biệt thự song lập theo mẫu, thuộc dự án Khu đô thị N như Công ty T1 đã nêu trên, thực hiện công việc đúng như thỏa thuận và công việc xong đã lâu, giữa các bên không có tranh chấp gì liên quan đến thực hiện công việc.
Công ty T2 ký hợp đồng trực tiếp với Công ty Đ nên thực hiện quyền và nghĩa vụ là giữa Công ty T2 với Công ty Đ. Hiện nay Công ty T2 chưa quyết toán thi công cho công việc cho Công ty Đ, nay biết được Công ty Đ còn nợ tiền của Công ty T1 để thực hiện công việc nên Công ty T1 khởi kiện đến Tòa án. Do vậy, đề nghị Công ty T1 có văn gửi đến Công ty T2 yêu cầu giữ lại số tiền mà Công ty T2 chưa quyết toán cho Công ty Đ để chờ Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, đưa ra xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng chấp hành đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án cho rút đối với phần Công ty T1 yêu cầu Công ty Đ trả số tiền 352.242.072 đồng là khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ.
Việc nguyên đơn yêu cầu Công ty Đ phải trả cho Công ty T1 số tiền 3.135.731.323 đồng (bao gồm: Công nợ gốc 1.534.330.315 đồng, tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2018, chỉ tính đến ngày Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm ngày 28/10/2024, với lãi suất 10%/năm là 1.601.401.008 đồng). Đồng thời, yêu cầu tính lãi chậm thi hành án theo quy định là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và án phí dân sự sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật về tố tụng: Công ty T1 và Công ty Đ đều là chủ thể có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận từ việc thực hiện hợp đồng dịch vụ nên xác định quan hệ tranh chấp chấp kinh doanh thương mại. Công ty Đ ký hợp đồng dịch vụ xây dựng với Công ty T2, rồi Công ty Đ ký hợp đồng dịch vụ lại cho Công ty T1 để thực hiện công việc; tại địa chỉ: Xã P, huyện C, tỉnh Long An nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn Công ty Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T2 đã được Tòa án thông báo hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt Công ty Đ và Công ty T2 là đúng pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét thấy, ngày 21 tháng 3 năm 2016 giữa Công ty T2 với Công ty Đ có ký Hợp đồng số 21.03/2016/HĐXL/FSG-HT để Công ty Đ thực hiện thi công gói thầu “Xây dựng 06 căn nhà liền kề, 02 căn nhà biệt thự song lập”, thuộc dự án Khu đô thị N, giai đoạn 1: 39,5 ha, tại địa chỉ xã P, huyện C, tỉnh Long An. Sau đó, ngày 22 tháng 3 năm 2016, giữa Công ty Đ với Công ty T1 có ký Hợp đồng thi công xây dựng số 05/HĐGK/HT2016, để Công ty T1 cũng nhận thầu thi công “Xây dựng 06 căn nhà liền kề, 02 căn nhà biệt thự song lập”, thuộc dự án Khu đô thị N, giai đoạn 1: 39,5 ha, tại địa chỉ xã P, huyện C, tỉnh Long An.
[2.2] Sau khi giữa Công ty Đ với Công ty T1 ký hợp đồng xong thì Công ty T1 đã tiến hành thi công xây dựng các hạng mục theo đúng thỏa thuận và công việc đã thực hiện xong theo đúng Hợp đồng chính số: 21.03/2016/HĐXL/FSG-HT ngày 21 tháng 3 năm 2016. Công ty T2 cũng đã thừa nhận các bên đã thực hiện theo đúng Hợp đồng số 21.03/2016/HĐXL/FSG-HT, ngày 21 tháng 3 năm 2016, giữa các bên không có tranh chấp gì liên quan đến thực hiện công việc.
[2.3] Công ty T1 đã thanh toán giá trị hoàn thành đợt 01, 02 và 03 theo Hợp đồng số 05/HĐGK/HT2016 ngày 22 tháng 3 năm 2016, công trình nhà mẫu thuộc dự án khu đô thị N theo các hóa đơn giá trị gia tăng là 6.389.308.315 đồng. Trong đó, hóa đơn số 69 ngày 22 tháng 8 năm 2016 số tiền 1.562.853.515 đồng, hóa đơn số 87 ngày 17 tháng 01 năm 2017 số tiền 2.059.387.678 đồng, hóa đơn số 120 ngày 09 tháng 01 năm 2018 số tiền 2.767.067.122 đồng.
[2.4] Tổng số tiền Công ty Đ đã tạm ứng và thanh toán cho Công ty T1 là 4.854.978.000 đồng. Trong đó, ngày 22 tháng 4 năm 2016, Công ty Đ đã tạm ứng cho Công ty T1 số tiền 640.000.000 đồng, còn lại số tiền 4.214.978.000 đồng trong quá trình thực hiện công việc Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty T1 trong giai đoạn thi công cụ thể: Ngày 08/9/2016 số tiền 400.000.000 đồng, ngày 19/9/2016 số tiền 400.000.000 đồng, ngày 28/9/2016 số tiền 320.000.000 đồng, ngày 04/10/2016 số tiền 300.000.000 đồng, ngày 07/10/2016 số tiền 50.000.000 đồng, ngày 12/10/2016 số tiền 200.000.000 đồng, ngày 08/5/2017 số tiền 495.000.000 đồng, ngày 27/7/2017 số tiền 200.000.000 đồng. Như vậy, trong giai đoạn thi công thì Công ty Đ đã tạm ứng và thanh toán đến ngày 27 tháng 7 năm 2017 là 3.005.000000 đồng. Còn trong giai đoạn đã bàn giao Công ty Đ đã trả được số tiền 1.848.978 đồng, cụ thể: Ngày 01/8/2019 số tiền 100.000.000 đồng, ngày 23/01/2020 số tiền 100.000.000 đồng, ngày 17/8/2020 số tiền 100.000.000 đồng, ngày 15/01/2021 số tiền 200.000.000 đồng, ngày 05/02/2021 số tiền 150.000.000 đồng, ngày 05/4/2021 số tiền 150.000.000 đồng, ngày 23/4/2021 số tiền 500.000.000 đồng, ngày 04/5/2021 số tiền 300.000.000 đồng, ngày 21/5/2021 số tiền 200.000.000 đồng, ngày 18/4/2023 số tiền 49.978.000 đồng.
[2.5] Công ty T1 đã thanh toán giá trị hoàn thành đợt 01, 02 và 03 theo Hợp đồng số 05/HĐGK/HT2016 ngày 22 tháng 3 năm 2016 và 03 hóa đơn giá trị gia tăng là 6.389.308.315 đồng – 3.005.000.000 đồng = 3.384.308.315 đồng. Ngày 09 tháng 01 năm 2018, Công ty T1 xuất hóa đơn số 120 cuối cùng nên số tiền công nợ còn lại mà Công ty Đ phải trả cho Công ty T1 tiền gốc là 3.384.308.315 đồng. Theo như các bên thỏa thuận trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày trình hồ sơ hợp lệ cho đợt thanh toán. Ngày 09 tháng 01 năm 2018, xuất hóa đơn cuối cùng nhưng Công ty Đ không thanh toán nên Công ty T1 yêu cầu Công ty Đ phải trả lãi suất do chậm thanh toán tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2018 là đúng pháp luật.
[2.6] Các bên có thỏa thuận chậm thanh toán 30 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán thì sẽ bị phạt theo tỷ lệ lãi suất cho vay của Ngân hàng N cho số tiền chậm thanh toán trên số ngày chậm trả nhưng không xác định rõ bị phạt theo lãi suất cho vay, thời hạn vay, mục đích vay và có tranh chấp. Do đó, Công ty T1 yêu cầu Tòa án tính lãi đối với số tiền mà Công ty Đ còn nợ tiền gốc chậm trả với mức lãi suất 10%/năm là phù quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể:
| Ngày | Còn nợ | Đã trả | Còn lại | Từ ngày | Đến ngày | Tổng cộng ngày | Lãi 10%/ngày | Tổng lãi | Tổng nợ thu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 20/1/18 | 3.384.308.315 | 3.384.308.315 | 20/1/18 | 31/7/19 | 557 | 927.205 | 516.454.721 | 3.900.763.036 | |
| 01/8/19 | 3.384.308.315 | 100.000.000 | 3.284.308.315 | 01/8/19 | 22/1/20 | 174 | 899.810.027 | 156.567.027 | 3.957.330.062 |
| 23/1/20 | 3.284.308.315 | 100.000.000 | 3.184.308.315 | 23/1/20 | 16/8/20 | 206 | 872.413 | 179.717.127 | 4.037.047.189 |
| 17/8/20 | 3.184.308.315 | 100.000.000 | 3.084.308.315 | 17/8/20 | 14/1/21 | 150 | 845.016 | 126.752.397 | 4.063.799.586 |
| 15/1/21 | 3.084.308.315 | 200.000.000 | 2.884.308.315 | 15/1/21 | 04/2/21 | 20 | 790.221 | 15.804.429 | 3.879.604.015 |
| 05/2/21 | 2.884.308.315 | 150.000.000 | 2.734.308.315 | 05/2/21 | 04/4/21 | 58 | 749.126 | 43.449.283 | 3.773.053.298 |
| 05/4/21 | 2.734.308.315 | 150.000.000 | 2.584.308.315 | 05/4/21 | 22/4/21 | 17 | 708.030 | 12.036.504 | 3.635.089.802 |
| 23/4/21 | 2.584.308.315 | 500.000.000 | 2.084.308.315 | 23/4/21 | 03/5/21 | 10 | 571.043 | 5.710.434 | 3.140.800.236 |
| 04/5/21 | 2.084.308.315 | 300.000.000 | 1.784.308.315 | 04/5/21 | 20/5/21 | 16 | 488.853 | 7.821.625 | 2.848.621.861 |
| 21/5/21 | 1.784.308.315 | 200.000.000 | 1.584.308.315 | 21/5/21 | 17/4/23 | 696 | 434.057 | 302.103.723 | 2.950.725.584 |
| 18/4/23 | 1.584.308.315 | 49.978.000 | 1.534.330.315 | 18/4/23 | 28/10/24 | 559 | 420.364 | 234.983.739 | 3.135.731.323 |
| Tổng cộng | 1.849.978.000 | 1.534.330.315 | 1.906 | 1.601.401.008 | 3.135.731.323 |
[2.7] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện phương thức tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho Công ty Đ nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện trả tiền của Công ty T1. Tòa án cũng đã thông báo hợp lệ cho Công ty Đ tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
[2.8] Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ và đề nghị của Kiểm sát viên, việc Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền 3.135.731.323 đồng (bao gồm: Nợ gốc 1.534.330.315 đồng, tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2018 đến ngày 28 tháng 10 năm 2024 là 1.601.401.008 đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.9] Theo khởi kiện ban đầu Công ty T1 yêu cầu Công ty Đ phải trả tiền vốn cho Công ty T1 là 1.886.550.387 đồng. Trong đó 1.534.308.315 đồng khối lượng Công ty T1 đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp, còn số tiền 352.242.072 đồng khối lượng phát sinh chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng nhưng tại phiên tòa phía nguyên đơn yêu cầu rút đối với phần mà Công ty T1 yêu cầu Công ty Đ trả số tiền 352.242.072 đồng. Do vậy, đình chỉ đối với phần nguyên đơn yêu cầu Công ty Đ phải trả số tiền 352.242.072 đồng.
[2.10] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 4.000.000 đồng. Công ty Cổ phần Đ phải chịu. Do Công ty Cổ phần T1 đã nộp tạm ứng nên Công ty Cổ phần Đ phải hoàn lại số tiền 4.000.000 đồng.
[2.11] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 nên Công ty Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền 94.714.626 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 85 và Điều 87 của Luật thương mại năm 2005;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T1 đối với Công ty Cổ phần Đ.
- Buộc Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tiền 3.135.731.323 (Ba tỷ một trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi ba) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Đình chỉ đối với phần Công ty Cổ phần T1 yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải trả số tiền 352.242.072 đồng.
- Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 4.000.000 đồng. Công ty Cổ phần Đ phải hoàn lại số tiền 4.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần T1.
- Về án phí: Công ty Cổ phần Đ phải chịu 94.714.626 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T1 số tiền 54.713.000 đồng, đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0010826, ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần Tư vấn – Thiết kế và Xây dựng Đ và Công ty Cổ phần Đầu tư – Xây dựng và Thương mại H
