|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST
Ngày: 25/10/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.
Bà Lò Thị Ánh Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Cà Thị T (tên gọi khác: Lù Thị T1); sinh năm: 1951, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lù Văn K (đã chết); Con bà: Lù Thị Đ; sinh năm 1930; có chồng là: Cà Văn P; sinh năm 1957; Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1984 (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 1989. Tiền sự: Không. Tiền án: Có 01 tiền án (Ngày 27/11/2018 Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tại bản án số: 281/2018/HS- ST. Đến ngày 29/10/2022 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, nhưng chưa được xóa án tích đối với bản án trên.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 31/8/2024, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
- Người có nghĩa vụ liên quan: Chị Lường Thị S; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 22/8/2024, Cà Thị T đi bộ từ nhà tại Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với mục đích đi tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Khi đi Bị cáo mang theo 200.000 đồng. Đến khu vực cánh đồng Bản N, xã T, huyện Đ thì Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi (không biết tên, năm sinh, địa chỉ). Bị cáo hỏi người này: “Có Heroine bán không?”, người đàn ông đó trả lời: “Có, lấy bao nhiêu?”, Bị cáo nói “Bán cho tôi 200.000 đồng”, người đàn ông đó nói “đưa tiền đây?”, nghe vậy Bị cáo lấy ra từ trong người 200.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền đồng thời đưa cho Bị cáo 01 gói nilon màu trắng, miệng gói được xoắn lại, bên trong là H đưa cho Bị cáo. Nhận xong Bị cáo cất gói ma tuý vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Đến 07 giờ 30 cùng ngày khi Bị cáo về đến nhà và đang đứng ở cầu thang thì có Lường Thị S; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ đến và hỏi Bị cáo “Chị có Heroine bán không?” Bị cáo trả lời “Có, mua bao nhiêu tiền?” Sinh nói “bán cho em 200.00 đồng?” Bị cáo nói “Đưa tiền đây?”, nghe vậy S đưa cho Bị cáo 200.000 đồng, Bị cáo cầm tiền cát vào túi quần bên trái đang mặc sau đó lấy Heroine cất giấu trước đó dùng tay cấu một phần Heroine rồi nhặt mảnh nilon màu hồng gói lại đưa cho S, S cầm gói Heroine rồi đi đâu Bị cáo không biết. Số Heroine còn lại Bị cáo gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc và sinh hoạt bình thường. Đến 10 giờ 45 phút cùng ngày khi Bị cáo đang ở nhà thị bị tổ công tác Công an huyện Đ đến kiểm tra, phát hiện thu giữ tại túi quần bên phải Bị cáo đang mặc là 01 gói Heroine và tại túi quần bên trái Bị cáo đang mặc là số tiền 200.000 đồng là số tiền do Bị cáo ma tuý cho S mà có, ngoài ra không phát hiện thu giữ gì thêm. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, đồng thời cơ quan CSĐT công an huyện Đ thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Bị cáo, kết quả khám xét không thu giữ được gì. Sau đó áp giải Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 22/8/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Cà Thị T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,6 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1379/KL- KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Cà Thị T giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,57 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 1396/KL- KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số: 191/CT-VKSHĐB ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Cà Thị T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,57 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do Bị cáo bán ma tuý mà có.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã già và đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Cà Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai của Bị cáo và của N có nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Trong ngày 22/8/2024 tại nhà ở của mình, Bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho chị Lường Thị S, thu được 200.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 0,6 gam Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.".
Hội đồng xét xử xét thấy. Bị cáo đã có hành vi mua ma túy mục đích để bán lẻ kiếm lời. Bị cáo đã bán 01 lần cho chị Lường Thị S được 200.000 đồng. Số ma túy còn lại Bị cáo cất giấu nhằm mục đích nếu ai hỏi mua thì Bị cáo sẽ bán nhưng Bị cáo chưa kịp bán tiếp cho các đối tượng khác thì bị bắt. Vì vậy hành vi của Bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán lẻ kiếm lời của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Mặc dù đã bị Toà án huyện Điện Biên xử phạt mức án 05 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý, sau khi ra trại Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại phạm tội. Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, không được đi học. Năm 1983 Bị cáo chung sống như vợ chồng với ông Lò Văn L (đã chết năm 1987) Bị cáo có 02 người con chung với ông Lò Văn L; con lớn sinh năm 1984 (đã chết); con nhỏ sinh năm 1986. Năm 1988 Bị cáo chung sống như vợ chồng với ông Cà Văn P1 (đến năm 2016 Bị cáo mới đi đăng ký kết hôn) và có 01 người con chung sinh năm 1989. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị Tòa án xét xử nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 27/11/2018 Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán chất ma tuý” tại bản án số: 281/2018/HS- ST. Đến ngày 29/10/2022 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, chính vì vậy Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo là người từ đủ 70 tuổi trở lên, Bố đẻ Bị cáo là ông Lò Văn K1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo làm ruộng, không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
0,57 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu xung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do Bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[6] Các vấn đề khác:
[6.1] Đối với người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi đã bán ma tuý cho Bị cáo. Trong quá trình điều tra Bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu. Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.
[6.2] Đối với chị Lường Thị S là người đã mua ma tuý của Bị cáo để sử dụng, Cơ quan điều tra đã triệu tập S đến làm việc, lấy lời khai, S cũng đã thừa nhận đã mua 200.000 đồng ma tuý của Bị cáo và đã sử dụng hết số ma tuý trên bằng hình thức hít. Ngày 05/9/2024 Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 25/QĐ- XPHC bằng hình thức: Phạt cảnh cáo. Xét việc xử phạt hành chính đối với Lường Thị S của Công an huyện Đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
[7.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7.2] Về sự vắng mặt của Người có nghĩa vụ liên quan chị Lường Thị S. Xét thấy tại phiên toà ngày hôm nay Người có nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Người có nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo là người cao tuổi, tại phiên Tòa, Bị cáo xin HĐXX miễn án phí HSST cho Bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng:
Khoản 1 Điều 251; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cà Thị T (tên gọi khác: Lù Thị T1) phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 02 năm 03 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 10 ngày tạm giữ (Từ ngày 22/8/2024 đến 31/8/2024). Bị cáo còn phải chấp hành là: 02 năm 02 tháng 20 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày Bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,57 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền: 200.000 đồng tiền Việt Nam.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù
