|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 22-10-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Thúy và ông Tòng Văn Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Lường Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Long Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST- HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:
Trần Sơn H
sinh ngày 23/7/1996 tại thành phố S, tỉnh Sơn LaNơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự doTrình độ văn hóa (Học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Đoàn thể, đảng phái: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S, sinh năm: 1964 và con bà Phạm Huyền N, sinh năm: 1969; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án số 15/2019/HSST ngày 06/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Sơn H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2018 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 200.000 VNĐ án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 29/8/2019, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm (đã được xóa án tích).
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐ-XPHC ngày 06/4/2022 của Công an thành phố S căn cứ Điều 57, 68, 70, 78, 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính xử phạt Trần Sơn H 2.500.000 VNĐ về hành vi trộm cắp tài sản, cùng ngày bị can đã chấp hành xong mức phạt (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Bị cáo bị bắt từ ngày 18/4/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mai Như N1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ D, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lường Văn T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Phạm Thành A, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bà Trần Thị Thanh H2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút, ngày 18/4/2024, tổ công tác Công an phường Q phối hợp với Công an phường C, Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại đoạn đường C phía trước cửa hàng V1 thuộc tổ A, phường C, thành phố S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Sơn H, có hành vi đang tang trữ 01 gói băng dính màu đen, mở ra bên trong chứa 11 viên nén đồng dạng màu hồng (H khai nhận là ma túy), thu giữ những vật chứng gồm: 01 gói băng dính màu đen bên trong chứa 11 viên nén đồng dạng màu hồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2-463.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 357383049147571, có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0368.036.xxx.
Về nguồn gốc số ma tuý H khai mua của Mai Như N1 sinh năm 1984, trú tại nhà nghỉ N2 thuộc tổ D, phường Q, thành phố S để đặt vấn đề mua ma túy Methamphetamine với số tiền 1.000.000 VNĐ tại khu vực phía trước nhà nghỉ N2 vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 17/4/2024. Việc giao dịch trao đổi mua bán ma tuý thông qua gọi điện thoại. H mua được 13 viên hồng phiến, sau đó đã sử dụng hết 2 viên, còn lại 11 viên H cất trong túi bóng được gói bằng băng dính màu đen dấu trong khe cống. Khoảng 11 giờ ngày 18/4/2024, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên H sử dụng 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook, màu bạc thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Thanh H2 sinh năm 2002, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S (là em gái ruột của Trần Sơn H3) để truy cập vào tài khoản “Sơn Hải” trên mạng xã hội Facebook, tại tài khoản này H3 đã nhắn tin tới tài khoản “Thiêm Thánh Thiện” của Lường Văn T sinh năm 1996, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S và tài khoản “Phạm Thành A” của Phạm Thành An S1 năm 1991, trú tại tổ H, phường C, thành phố S là những người H có mỗi quan hệ xã hội quen biết từ năm 2015 để đặt vấn đề bán ma túy cho T và A với giá khoảng 80.000 VNĐ/01 viên thì cả T và A đều không mua. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, H lấy số ma túy đã cất ở khe cống gần nhà cho vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B2-463.47 di chuyển xung quanh khu vực thành phố S, H dự định nếu có ai đặt vấn đề mua ma túy thì sẽ bán để kiếm lợi nhuận. Khi H đang điều khiển xe mô tô trên đoạn
đường C phía trước cửa hàng V1 thuộc tổ A, phường C, thành phố S thì bị tổ công tác Công an phường Q phối hợp cùng Công an phường C, Công an thành phố S kiểm tra hành chính, H đã giao nộp số ma túy cùng những vật chứng khác cho tổ công tác như đã nêu trên.
Ngày 19/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Trần Sơn H, kết quả: 11 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 1,15 gam, lấy 05 viên có tổng khối lượng 0,51 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T, còn 06 viên có tổng khối lượng 0,64 gam lưu kho, ký hiệu H4
Tại kết luận giám định số 941/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,15 gam; Loại Methamphetamine"
Tại bản Cáo trạng số 450/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố Trần Sơn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S trình bày: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B2-463.47 là xe của ông, đăng ký tên của ông, việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý và đi tìm nơi để bán ma tuý ông không biết. Tại giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho ông chiếc xe trên. Tại phiên toà ông không có ý kiến gì thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh H trình bày: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook, màu bạc là tài sản của bà, việc bị cáo sử dụng chiếc máy tính trên để liên lạc giao dịch tìm đối tượng mua bán ma tuý bà không biết. Tại giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bà chiếc máy tính trên. Tại phiên toà bà không có ý kiến gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Sơn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Trần Sơn H từ 38 (ba mươi tám) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án đề nghị Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 084352; 01 mảnh băng dính màu đen, mẫu lưu ký hiệu H = 0,64 gam; 01 sim số thuê bao 0368.036.693;
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 357383049147571.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Sơn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trước phiên toà, Toà án có triệu tập Mai Như N1, Lường Văn T và Phạm Thành A là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, đều có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết mới, chứng cứ mới, nên không có căn cứ xác định Mai Như N1, Lường Văn T và Phạm Thành A phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của Trần Sơn H, cũng không liên quan đến vấn đề xử lý vật chứng trong vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử không xác định Mai Như N1, Lường Văn T, Phạm Thành A là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Ngày 18/4/2024, Trần Sơn H đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 1,15 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để bán kiếm lợi nhuận thì bị phát hiện, bắt quả tang tại đoạn đường C phía trước cửa hàng V1 thuộc tổ A, phường C, thành phố S.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 15 phút ngày 18/4/2024; Kết luận giám định số 941/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của phòng K - Công an tỉnh S, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo.... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết mới.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hành vi của Trần Sơn H đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
[3.1] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay đều có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là Trần Văn H5 được nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3.4] Về nhân thân:
Bị cáo Trần Sơn H có nhân thân xấu: Ngày 06/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 15/2019/HSST; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí toà án của các bản án này. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo đã được xóa án tích. Ngày 06/4/2022 bị Công an thành phố S xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐ-XPHC, cùng ngày bị cáo đã chấp hành xong mức phạt (đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Từ những đánh giá và nhận định nêu trên, HĐXX thấy rằng: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt 34 (ba mươi tư) tháng tù là tương ứng với hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ trích rút giám định, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh băng dính màu đen, 01 sim số thuê bao 0368.036.693 là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 357383049147571 của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hìnhnăm 2015.
- Đối với 01 mô tô 26B2-463.47 và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook, màu bạc để thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 18/4/2024 trên địa bàn thành phố S là tài sản hợp pháp của ông S và bà H2. Quá trình bị cáo sử dụng các tài sản trên phạm tội ông S và bà H2 đều không biết, vì vậy không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông S và bà H2. Đồng thời, cơ quan cảnh sát điều tra đã thực hiện việc trao trả vật chứng trên cho ông S và bà H2 là đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2025.
[6] Về nguồn gốc 1,15 gam Methamphetaminebị thu giữ, Trần Sơn H khai nhận mua của Mai Như N1 vào ngày 17/4/2024 tại nhà nghỉ N2 thuộc tổ D, phường Q, thành phố S thông qua số thuê bao V2 0395.149.929. Tiến hành xác minh đối với số thuê bao 0395.149.929 tại nhà mạng Viettel thì xác định số thuê bao được đăng ký bởi anh Vì Văn B sinh năm 1976, trú tại bản Kéo Hin, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La, tiến hành làm việc với anh V Văn B xác định anh B không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, anh B cũng không quen biết Mai Như N1 và Trần Sơn H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập lấy lời khai Mai Như N1, thực hiện đối chất giữa Trần Sơn H và Mai Như N1, tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ khác. Tuy nhiên ngoài lời khai của bị can, không có căn cứ xác định Mai Như N1 đã bán ma túy cho Trần Sơn H vào ngày 17/4/2024, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án nên cần chấp nhận.
[7] Đối với Lường Văn T và Phạm Thành A: đều được Trần Sơn H đặt vấn đề bán ma túy tuy nhiên cả hai đều không đặt vấn đề mua ma túy của H và cả hai không biết H có ma túy để mua ma túy hay không nên không đủ căn cứ để xác định T và A phạm tội không tố giác tội phạm, do đó xác định hành vi của T và A không có dấu hiệu của tội phạm vì vậy không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T và A.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:
Tuyên bố bị cáo Trần Sơn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Trần Sơn H 34 (ba mươi tư) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 084352; 01 mảnh băng dính màu đen, mẫu lưu ký hiệu H = 0,64 gam; 01 sim số thuê bao 0368.036.693;
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 357383049147571.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
- + Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Trần Văn S 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2-463.47, trả cho bà Trần Thị Thanh H2 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook, màu bạc.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Sơn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Sơn Hải - Tàng trữ trái phép chất ma túy
