TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HCST Ngày: 30/9/2024 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
- Ông Đỗ Văn Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường– Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 03/2024/TLST-HC ngày 16/8/2024 về việc: “ Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 680/2024/QĐXXST-HC ngày 11/9/2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1952.
Địa chỉ: Tổ A, thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Việt M, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bị kiện:
- - Chi cục thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
- - Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh L, sinh năm: 1969, chức vụ: Phó Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
1
Tại phiên tòa có mặt ông Phạm Văn T, ông Võ Việt M, ông Trần Thanh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2024, đơn bổ sung yêu cầu ngày 10/9/2024, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Phạm Văn T và người đại diện theo ủy quyền ông Võ Việt M trình bày:
Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết hủy bỏ Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận vì những căn cứ như sau:
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử việc “Tranh chấp về thừa kế” đã tuyên xử: “Chia cho ông Phạm Văn T thửa đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2m² và sở hữu số cây trồng trên đất trị giá 3.735.000 đồng” tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Sau khi thực hiện các nghĩa vụ quy định trong Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn T đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đối với phần đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2m² tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận tại Chi nhánh Văn phòng Đ.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Chi cục thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT có nội dung: 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia thừa kế theo Bản án nêu trên thuộc trường hợp “ngoài hạn mức giao đất ở”; không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, Điều 100 Luật đất đai. Trên cơ sở đó, yêu cầu ông T phải nộp số tiền sử dụng đất là 445.200.000 đồng.
Do không đồng ý với Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT của Chi cục thuế thành phố P nên ông Phạm Văn T đã có đơn khiếu nại.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT có nội dung: Không chấp nhận khiếu nại của ông Phạm Văn T và giữ nguyên Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P với số tiền 445.200.000 đồng.
2
Việc Chi cục thuế thành phố P buộc ông Phạm Văn T phải nộp số tiền 445.200.000 đồng khi đăng ký quyền sử dụng 127,2 m² đất ở tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là trái quy định của pháp luật vì:
Thứ nhất: Thửa đất ở có diện tích 127,2 m² tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận mà ông Phạm Văn T được phân chia thừa kế theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc do cha mẹ ông T là cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1 sử dụng từ năm 1942.
Sau khi cha mẹ chết anh trai ông Phạm Văn T là ông Phạm T1 tiếp tục sử dụng. Ngày 10/8/1991, anh trai ông T là ông Phạm T1 đã được Ủy ban nhân dân thị xã P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m².
Năm 2005, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thất lạc nên anh trai ông Phạm Văn T là ông Phạm Thiện L1 thủ tục cấp lại và đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m² (nay là thửa đất trồng cây lâu năm số 29, tờ bản đồ số 21, diện tích 551,4m² và thửa đất ở số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 552m²) đứng tên ông Phạm Thiện
Như vậy, thửa đất ở số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 552m² (trong đó có 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) là di sản do cha mẹ chết để lại. Từ ngày 10/8/1991 Ủy ban nhân dân thành phố P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này và đến ngày 31 tháng 3 năm 2005, UBND thành phố P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m².
Tại Văn bản số 2684/UBND-TCD ngày 13 tháng 6 năm 2016, UBND thành phố P khẳng định, khi làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm T1 chưa được sự ủy quyền của những người đồng thừa kế của cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1 là cha mẹ của ông Phạm Văn T và ông Phạm Tư.1
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng khẳng định nguồn gốc đất do cha mẹ ông Phạm Văn T là cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1
3
chết để lại, khi làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm T1 chưa được sự ủy quyền của những người đồng thừa kế là ông Phạm Văn T và ông Phạm T2 nhưng UBND thành phố P vẫn cấp giấy chứng nhận cho ông Phạm T1 là trái quy định của pháp luật về đất đai. Cho nên, Tòa án đã tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đứng tên ông Phạm Thiện .
Như vậy, việc Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đứng tên ông Phạm T1 là do các thửa đất này là di sản do cha mẹ để lại nhưng khi làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm T1 chưa được sự ủy quyền của những người đồng thừa kế là ông Phạm Văn T và ông Phạm Tư .1
Cho nên, quyền sử dụng đối với 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) là di sản do cha mẹ chết để lại chứ không thuộc trường hợp “ngoài hạn mức giao đất ở”. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật thì ông Thinh K phải nộp tiền sử dụng đất khi đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cho nên, việc Chi cục thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT, ngày 11 tháng 7 năm 2024 cho rằng 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia thừa kế theo Bản án nêu trên là “ngoài hạn mức giao đất ở”; không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, Điều 100 Luật đất đai để trên cơ sở đó buộc ông T phải nộp số tiền sử dụng đất 445.200.000 đồng là trái pháp luật.
Do Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT, ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P trái pháp luật nên Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P giữ nguyên Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT, ngày 11 tháng 7 năm 2024 đương nhiên cũng trái pháp luật.
Đối với Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P có liên quan đến các quyết định hành chính bị kiện mà Tòa án đang giải quyết trong vụ án nên yêu cầu hủy thông báo này với lý do Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P xác định số tiền lệ phí trước bạ là 2.314.600 đồng và buộc ông Phạm Văn T phải nộp số tiền lệ phí trước bạ 2.226.000 đồng
4
(giảm 88.600 đồng theo khoản 06, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ) là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Bởi vì: Khoản 10, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ quy định trường hợp được miễn lệ phí trước bạ: “Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử việc “Tranh chấp về thừa kế” đã tuyên xử: “Chia cho ông Phạm Văn T thửa đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2m² và sở hữu số cây trồng trên đất trị giá 3.735.000 đồng” tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Do thửa đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2 m² là di sản thừa kế do cha mẹ ông Phạm Văn T để lại cho ông T (đất nhận thừa kế giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ) nên trong trường hợp này ông T được miễn nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Phạm Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết hủy bỏ Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P.
Ông Phạm Văn T cam đoan ngoài việc khởi kiện vụ án hành chính theo đơn khởi kiện này; ông Thinh K khiếu nại hay khởi kiện đối với Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P tại bất cứ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào khác.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Trần Thanh L trình bày:
5
Nội dung đơn khiếu nại của ông Phạm Văn T gửi đến Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P ngày 01/8/2024 khiếu nại Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11/7/2024 của Chi cục thuế thành phố P là không có cơ sở pháp lý để xem xét.
Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Phạm Văn T, giữ nguyên Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P với số tiền 445.200.000 đồng.
Vì vậy không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P của người khởi kiện ông Phạm Văn T.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P là không có căn cứ pháp luật.
Do vậy, Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P.
Kiến nghị Chi cục thuế thành phố P đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đ thu hồi Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 1252 A/PCTTĐC ngày 17/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Người khởi kiện ông Phạm Văn T khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P. Như vậy đây là quan hệ pháp luật hành chính: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản
6
lý nhà nước trong lĩnh vực thuế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 31 Luật tố tụng hành chính.
[2] Về quyền khởi kiện: Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn T nên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Vì vậy, ông Phạm Văn T có quyền khởi kiện đối với các quyết định này.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Chi cục thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT và Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT và ngày 13 tháng 8 năm 2024, Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu). Đến ngày 16/8/2024, ông Phạm Văn T có đơn khởi kiện vụ án hành chính là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[4] Xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị kiện:
[4.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị kiện:
Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P được ban hành đúng quy định pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định tại Điều 19, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Luật khiếu nại.
Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P được ban hành đúng quy định tại Điều 18, Điều 19 Luật quản lý thuế.
[4.2] Về nội dung các quyết định hành chính bị kiện: Thửa đất ở có diện tích 127,2 m² tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận mà ông Phạm Văn T được phân chia thừa kế theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc do cha mẹ ông T là cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1 sử dụng từ năm 1942.
7
Sau khi cha mẹ chết anh trai ông Phạm Văn T là ông Phạm T1 tiếp tục sử dụng. Ngày 10/8/1991, anh trai ông T là ông Phạm T1 đã được Ủy ban nhân dân thị xã P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m².
Năm 2005, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thất lạc nên anh trai ông Phạm Văn T là ông Phạm Thiện L1 thủ tục cấp lại và đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m² (nay là thửa đất trồng cây lâu năm số 29, tờ bản đồ số 21, diện tích 551,4m² và thửa đất ở số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 552m²) đứng tên ông Phạm Thiện .
Như vậy, thửa đất ở số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 552m² (trong đó có 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) là di sản do cha mẹ chết để lại. Từ ngày 10/8/1991 Ủy ban nhân dân thành phố P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này và đến ngày 31 tháng 3 năm 2005, UBND thành phố P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 602, tờ bản đồ số 01, diện tích 548m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đối với thửa đất số 601, tờ bản đồ số 01, diện tích 679m².
Tại Văn bản số 2684/UBND-TCD ngày 13 tháng 6 năm 2016, UBND thành phố P khẳng định khi làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm T1 chưa được sự ủy quyền của những người đồng thừa kế của cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1 là cha mẹ của ông Phạm Văn T và ông Phạm Tư.1
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng khẳng định nguồn gốc đất do cha mẹ ông Phạm Văn T là cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1 chết để lại, khi làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm T1 chưa được sự ủy quyền của những người đồng thừa kế là ông Phạm Văn T và ông Phạm T2 nhưng UBND thành phố P vẫn cấp giấy chứng nhận cho ông Phạm T1 là trái quy định của pháp luật về đất đai. Cho nên, Tòa án đã tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 ngày 31 tháng 3 năm 2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 ngày 31 tháng 3 năm 2005 đứng tên ông Phạm Thiện .
Như vậy, Việc Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317637 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 317638 cùng ngày 31 tháng 3 năm 2005 đứng tên ông Phạm T1 là do cấp sai đối tượng sử dụng đất.
8
Còn các thửa đất trồng cây lâu năm số 29, tờ bản đồ số 21, diện tích 551,4m² và thửa đất ở số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 552m2 vẫn được Tòa án xác định là di sản của cụ Phạm N và cụ Phạm Thị N1.
Thửa đất mà ông Phạm Văn T đăng ký cấp giấy chứng nhận có 03 loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 100, Luật Đất đai, đó là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã P cấp cho ông Phạm Thiện N2 10/8/1991; Ông Phạm T1 có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế là Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Cho nên, quyền sử dụng đối với 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia theo Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là di sản do cha mẹ chết để lại chứ không thuộc trường hợp “ngoài hạn mức giao đất ở”. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật thì ông Thinh K phải nộp tiền sử dụng đất khi đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chi cục thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 cho rằng 127,2 m² đất ở mà ông Phạm Văn T được chia thừa kế theo Bản án nêu trên là “ngoài hạn mức giao đất ở”; không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, Điều 100 Luật đất đai để trên cơ sở đó buộc ông T phải nộp số tiền sử dụng đất 445.200.000 đồng là không đúng quy định pháp luật. Trường hợp này không thuộc đối tượng thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai và Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.
Do Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT, ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P trái pháp luật nên Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT, ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P giữ nguyên Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT, ngày 11 tháng 7 năm 2024 đương nhiên cũng trái pháp luật.
Đối với Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P xác định số tiền lệ phí trước bạ là 2.314.600 đồng và buộc ông Phạm Văn T phải nộp số tiền lệ phí trước bạ 2.226.000 đồng (giảm 88.600 đồng theo khoản 10, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ). Tuy nhiên theo quy định tại khoản 10, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ quy định trường hợp được miễn lệ phí trước bạ:
9
“Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 547/2023/DS-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử việc “Tranh chấp về thừa kế” đã tuyên xử: “Chia cho ông Phạm Văn T thửa đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2m² và sở hữu số cây trồng trên đất trị giá 3.735.000 đồng” tại thôn Xuân Phú, xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Do thửa đất có diện tích 304,4m²; trong đó đất ở là 127,2 m² và đất trồng cây lâu năm là 177,2 m² là di sản thừa kế do cha mẹ ông Phạm Văn T để lại cho ông T (đất nhận thừa kế giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ) nên trong trường hợp này ông T được miễn nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 10, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ .
[4.3] Từ những căn cứ trên đủ cơ sở để kết luận việc Chi cục thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) có nội dung không đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn T. Vì vậy ông Phạm Văn T yêu cầu hủy các quyết định này là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T về việc yêu cầu hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P và Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P.
[5] Về án phí hành chính sơ thẩm: Người khởi kiện ông Phạm Văn Thinh K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Đồng thời người khởi kiện cũng thuộc đối tượng được miễn nộp
10
tiền án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Do yêu cầu của người khởi kiện của ông Phạm Văn T được chấp nhận nên nên Chi cục thuế thành phố P và Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 của Luật tố tụng hành chính
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 115, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 204 Luật Tố tụng hành chính;
Điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 100 Luật đất đai;
Khoản 10 Điều 16, Điều 18, Điều 19 Luật quản lý thuế;
Điều 6 Nghị định 45/2014/N Đ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.
Khoản 10, Điều 10, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính Phủ quy định về lệ phí trước bạ
Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T.
- -Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2471501-TK0007857/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P;
- -Hủy Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất số LTB 2471501-TK0007855/TB-CCT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thuế thành phố P;
- -Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 3177/QĐ-CCT ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn T (Lần đầu) của Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P;
Kiến nghị Chi cục thuế thành phố P đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đ thu hồi Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 1252 A/PCTTĐC ngày 17/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai đúng quy định pháp luật;
Buộc Chi cục thuế thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Ông Phạm Văn T được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm theo nội dung Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 03/202T/TB-TA ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
11
Chi cục thuế thành phố P phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Chi cục Trưởng Chi cục thuế thành phố P phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Công |
12
Bản án số 01/2024/HCST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
- Số bản án: 01/2024/HCST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong linh vực thuế
