TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày: 26 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Trọng Kim
Ông Phạm Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLST-KDTM ngày 11 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-KDTM ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2024/QĐST-KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H; Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là “H1”). Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T; chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh L; chức vụ: Giám đốc HDBank Phòng giao dịch H1. Người được ủy quyền lại: Bà Hoàng Thị Thùy D; chức vụ: Chuyên viên Quan hệ khách hàng cá nhân; Địa chỉ: Số A, đường Đ, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Bình M, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số H, đường số B, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện trình bày:
Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H-Chi nhánh B-Phòng H1 đã cho bà Lê Thị Bình M vay tiền theo hợp đồng tín dụng số 6368/21/MB/HĐTD, ngày 13/05/2021; Số tiền vay: 700.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng (từ ngày 15/5/2021 đến ngày 14/05/2028); Phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả đều hàng năm theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021; Lãi suất vay: Được quy định cụ thể trên giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021; Tài sản thế chấp: Thửa đất số 408, tờ bản đồ số 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 893268, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00465/QSDĐ/226QĐ/UB-ĐL, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 24/12/1996 đứng tên ông Nguyễn Quốc H đã được cập nhật cho bà Lê Thị Bình M ngày 05/09/2009, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6368/21/MB/HĐBĐ ngày 13/05/2021.
Tuy nhiên sau khi giải ngân bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi như đã thoả thuận theo Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký từ kỳ trả nợ ngày 15/05/2023. Mặc dù Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H đã nhiều lần liên hệ, làm việc, tạo điều kiện nhưng bà M vẫn không thực hiện.
Nên Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H yêu cầu Toà án buộc bà Lê Thị Bình M phải trả số tiền nợ tính đến ngày 26/9/2024 với tổng số tiền là 623.684.831 đồng. Trong đó: nợ gốc là 515.856.861, nợ lãi trong hạn là 88.358.132 đồng, nợ lãi quá hạn đối với quá hạn gốc và lãi chậm trả là 19.469.838 đồng. Đồng thời yêu cầu bà M tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021 cho đến khi trả dứt nợ. Trường hợp bà M không thực hiện đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H có quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, trường hợp số tiền phát mãi vẫn không thanh toán hết khoản nợ thì bà M vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H.
Theo hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:
Tại biên bản hoà giải ngày 08/8/2024 bà M đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất về khoản vay, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp, khoản nợ tính đến ngày 08/8/2024 bà M nợ Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H là 613.037.556 đồng (bao gồm gốc 515.856.878, lãi trong hạn 81.253.804 đồng, lãi quá hạn đối với quá hạn gốc và lãi chậm trả lãi 15.926.874 đồng). Thời gian qua bị đơn cũng tìm phương án để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H. Tuy nhiên, đất đai hạ giá, việc làm ăn không hiệu quả, nên mất khả năng thánh toán cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H. Bà M đồng ý trả toàn bộ số tiền nợ như Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H yêu cầu. Tuy nhiên, mong phía Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H có phương án để tạo điều kiện cho bà M có điều kiện tái sản xuất, kinh doanh.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự, người đại diện trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn chấp nhận, đề nghị Hội đồng xử buộc bà Lê Thị Bình M phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2024 và tiếp tục trả lãi cho đến khi trả hết nợ, trường hợp bà M không thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H có quyền yêu cầu xử lý tài sản để bảo đảm thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn bà Lê Thị Bình M hiện thường trú tại huyện Đ nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự, người đại diện cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự, người đại diện tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà M vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227, các khoản 2, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bà M là phù hợp.
[4] Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H yêu cầu bà M phải trả số tiền nợ tính đến ngày 26/9/2024 là 623.684.831 đồng. Trong đó: nợ gốc là 515.856.861 đồng, nợ lãi trong hạn là 88.358.132 đồng, nợ lãi quá hạn đối với quá hạn gốc và lãi chậm trả là 19.469.838 đồng.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm “Hợp đồng tín dụng áp dụng khi cho vay từng lần số 6368/21MB/HĐTD, ngày 13/5/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6368/21MB/HĐBĐ, ngày 13/5/2021; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021; Thông báo thu hồ nợ quá hạn số 03/2024//TB-PGDĐL, ngày 04/5/2024; thông báo khởi kiện số 03/2024/TB-HDBANKĐUCLINH, ngày 06/5/2024; Cam kết thế chấp tài sản chưa hợp lệ ngày 13/5/2021 ...”. Cùng với việc nộp đơn khởi kiện nguyên đơn đã thực hiện việc sao gửi “Đơn khởi kiện” cho bà M.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử tại biên bản hoà giải ngày 08/8/2024 bà M đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất về khoản vay, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp, khoản nợ như Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H yêu cầu. Cho nên, đây là sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo đại diện Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H kể từ thời điểm Toà án Hoà giải ngày 08/8/2024 cho đến nay bà M vẫn chưa thanh toán được cho phía Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H bất kỳ số tiền nào. Phía bà M không phản đối về dư nợ mà đại diện nguyên đơn đưa ra tính đến nay, cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ thể hiện sau ngày 08/8/2024 cho đến nay bà M đã thanh toán số tiền nợ mà Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H khởi kiện yêu cầu. Xét về các thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng áp dụng khi cho vay từng lần số 6368/21MB/HĐTD, ngày 13/5/2021; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021 mà các bên thoả thuận, giao kết phù hợp với quy định của pháp luật. Việc bà M không thực hiện nghĩa vụ là vi phạm thoả thuận đã ký kết, nên Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H khởi kiện là có căn cứ được chấp nhận.
[5] Để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng áp dụng khi cho vay từng lần số 6368/21MB/HĐTD, ngày 13/5/2021 bà Lê Thị Bình M đã dùng tài sản là thửa đất số 408, tờ bản đồ số 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 893268, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00465/QSDĐ/226QĐ/UB-ĐL, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 24/12/1996 đứng tên Nguyễn Quốc H đã được cập nhật cho bà Lê Thị Bình M ngày 05/9/2009, là tài sản do bà M nhận thừa kế thế chấp cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6368/21MB/HĐBĐ, ngày 13/5/2021. Việc thế chấp tài sản đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bà M còn cam kết thế chấp tài sản chưa hợp lệ ngày 13/5/2021 đối với toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Do đó, trong trường hợp bà M không hoàn trả số tiền trên thì Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, trường hợp số tiền phát mãi vẫn không thanh toán hết khoản nợ thì bà M vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H.
[6] Bà Lê Thị Bình M tiếp tục phải trả lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo luật định.
[7] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền này nguyên đơn đã chi tạm ứng nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[8] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[9] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 157, 158, khoản 2 Điều 227, các khoản 2, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 317, 318, 319, 323, 325, 463, 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2020; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H.
- Buộc bà Lê Thị Bình M phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 623.684.831 đồng (Sáu trăm hai mươi ba triệu sáu trăm tám mươi bốn ngàn tám trăm ba mươi mốt đồng). (Trong đó: nợ gốc là 515.856.861 (Năm trăm mười lăm triệu tám trăm năm mươi sáu ngàn tám trăm sáu mươi mốt đồng), nợ lãi trong hạn là 88.358.132 đồng (Tám mươi tám triệu ba trăm năm mươi tám ngàn một trăm ba mươi hai đồng), nợ lãi quá hạn đối với quá hạn gốc và lãi chậm trả là 19.469.838 đồng (Mười chín triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm ba mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Lê Thị Bình M phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H theo mức lãi các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng áp dụng khi cho vay từng lần số 6368/21MB/HĐTD, ngày 13/5/2021 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6368/21/MB/HĐTD/KUNN01, ngày 14/05/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
Trong trường hợp bà Lê Thị Bình M không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6368/21MB/HĐBĐ, ngày 13/5/2021 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo cam kết thế chấp tài sản chưa hợp lệ ngày 13/5/2021.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thị Bình M và chi phí liên quan đến việc thi hành án (nếu có). Nếu tài sản thế chấp sau khi cấn trừ các nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H và chi phí liên quan đến việc thi hành án (nếu có), phần còn lại sẽ được trả lại cho bà Lê Thị Bình M.
Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Lê Thị Bình M vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H.
Ngay sau khi bà Lê Thị Bình M hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H thì Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Bình M bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 893268, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00465/QSDĐ/226QĐ/UB-ĐL, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 24/12/1996 đứng tên Nguyễn Quốc H đã được cập nhật đứng tên bà Lê Thị Bình M ngày 05/09/2009.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Lê Thị Bình M hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H đã chi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H số tiền 13.852.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm năm mươi hai ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004681, ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Lê Thị Bình M phải chịu 28.947.393 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm bốn mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi ba đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng HDBANK- Lê Thị Bình Mai "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
