|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/DS-ST
Ngày: 21 tháng 9 năm 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thục
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 21/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/DS-ST ngày 02/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35A/2024/QĐXXST-DS ngày 19/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐ-ST ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Trụ sở: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Ông Nguyễn Thành H – Chuyên viên xử lý nợ.
- Ông Lê Ngọc Đ – Chuyên viên xử lý nợ.
- Ông Đỗ Mạnh K – Chuyên viên xử lý nợ.
Cùng địa chỉ: Tầng G, tòa nhà V, số G, đường D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội theo Văn bản ủy quyền số 909 ngày 09/09/2024.
Bị đơn:
1. Chị Trần Thị C, sinh năm 1988
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ cụ thể.
2. Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 1962. Cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
3. Bà Nguyễn Thị L. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
4. Cháu Nguyễn Nhật M, sinh năm 2010
5. Cháu Nguyễn Minh K1, sinh năm 2015
Đều cư trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của cháu M và cháu K1: Chị Trần Thị C sinh năm 1988. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang ở nước ngoài không roõ địa chỉ cụ thể.
(Ông Nguyễn Huy H1, bà Nguyễn Thị L, cháu Nguyễn Nhật M, cháu Nguyễn Minh K1 là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1985 chết ngày 23/3/2021)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1963
- Anh Nguyễn Khánh H3, sinh năm 1990
Đều cư trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V do ông Lê Ngọc Đ- Đại diện theo ủy quyền trình bày:
- Ngày 04/12/2018, anh Nguyễn Thanh B (đã chết ngày 23/3/2021) cùng vợ là chị Trần Thị C có ký Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1811281096471 với Ngân hàng Thương mại cổ phần V (viết tắt là V1): Số tiền vay là 180.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám người triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 6/12/2018 đến ngày 6/12/2023: Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô GRAND I10 số máy G3LAGM082804. Lãi suất trong hạn là 7,9% năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/ năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngân hàng V1 đã thực hiện ủy nhiệm chi ngày 6/12/2018 giải ngân số tiền 180.000.000 đồng thông qua việc chuyển khoản vào số tài khoản của bên thụ hưởng là số tài khoản 104004994137, chủ tài khoản: Nguyễn Thị T, tại Ngân hàng V2 tại Chi nhánh huyện L (người bán xe ô tô cho anh B- chị C). Quá trình vay, anh B và chị
C đã trả được tổng số tiền 150.905.362 đồng, trong đó 106.042.858 đồng tiền gốc, 44.862.504 tiền lãi. Theo thỏa thuận, hàng tháng anh B chị C trả 3.000.000 đồng tiêng gốc và tiền lãi, anh B chị C thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày 06/10/2021. Từ ngày 06/11/2021, thì anh B và chị C không thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Tính đến ngày 21/9/2024, Ngân hàng xác định anh B và chị C còn nợ Ngân hàng số tiền 127.922.908 đồng, trong đó nợ gốc là 73.957.142 đồng; nợ lãi trong hạn 3.837.591 đồng; nợ lãi quá hạn 50.128.175 đồng.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Hyundai i10, số khung: 51AAHM449144, số máy: G3LAGM082804, BKS: 98A-103.21, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 30/11/2018 thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của anh Nguyễn Thanh B và chị Trần Thị C theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số LN1811281096471 ký ngày 04/12/2018 giữa V1 với ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị C.
- Ngày 15/12/2020, anh Nguyễn Thanh B có ký Hợp đồng cho vay (áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay vốn từng lần không tài sản bảo đảm trên Kênh Vpbank O) số LD2035002290 với V1: Số tiền vay là 66.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu đồng), giải ngân ngày 15/12/2020 vào tài khoản của anh Trần Thanh B1; Thời hạn vay: 36 tháng. Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng. Lãi suất trong hạn là 19% năm. Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/ năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Quá trình vay, anh B1 và chị C đã trả được tổng số tiền 30.734.310 đồng, trong đó 18.482.654 đồng trả nợ gốc; 12.251.656 đồng trả nợ lãi. Tính đến ngày 21/9/2024, anh B1 và chị C còn nợ Ngân hàng số tiền 86.996.555 đồng, trong đó nợ gốc là 47.517.346 đồng; nợ lãi trong hạn là 949.308 đồng; nợ lãi quá hạn 38.529.901 đồng.
Từ ngày 06/11/2021 thì anh B1 chị C không thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khoản nợ của anh B1 chị C chuyển sang nợ quá hạn.
Anh Nguyễn Thanh B và chị Trần Thị C còn nợ V1 tổng số tiền của hai hợp đồng tạm tính đến ngày 21/09/2024 là 214.919.463 đồng: Nợ gốc 121.474.488 đồng; lãi trong hạn: 4.786.899 đồng; lãi quá hạn: 88.658.076 đồng).
Anh B chết ngày 23/3/2021. Nay V1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
a. Yêu cầu Tòa án buộc chị Trần Thị C phải thanh toán cho V1 tổng số tiền còn nợ theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 21/9/2024 là 214.919.463 đồng: Nợ gốc 121.474.488 đồng; lãi trong hạn: 4.786.899 đồng; lãi quá hạn: 88.658.076 đồng.
b. Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay cho đến ngày thực tế chị Trần Thị C thanh toán hết nợ cho V1.
c. V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Hyundai i10, số khung: 51AAHM449144, số máy: G3LAGM082804, BKS: 98A-103.21, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 30/11/2018 mang tên anh Nguyễn Thanh B trong trường hợp chị Trần Thị C không trả nợ hoặc trả không đầy đủ khoản nợ cho V1.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ V1 tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra V1 không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn là ông Nguyễn Huy H1 trình bày: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Thanh B. Ông có được biết việc vợ chồng anh B- chị C vay của V1 một khoản tiền. Vay bao nhiêu, vay thế nào thì ông không nắm được.
Nay V1 khởi kiện ra Toà án, quan điểm của ông: Do tuổi cao, sức khoẻ không được ổn định, phải nuôi hai cháu nhỏ, kinh tế rất khó khăn, không đủ khả năng chi trả. Vì vậy ông yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thị C hiện đang lao động tại nước ngoài, chị C vẫn gọi điện về hỏi thăm con nên ông được biết chị C đang lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể ở đâu và làm gì thì ông không nắm được. Bà Nguyễn Thị L là vợ cũ của ông và là mẹ đẻ của anh B, ông và bà L ly hôn vào khoảng năm 1988, hiện nay ông không biết bà L đang làm gì và ở đâu. Ông xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Khánh H3 trình bày: Năm 2018, anh trai anh là anh Nguyễn Thanh B có mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, BKS: 98A-103.21. Theo hình thức trả góp, thế chấp đăng ký xe. Theo anh được biết anh B cũng đã đóng tiền đầy đủ cả gốc và lãi theo hợp đồng. Cho đến ngày 23/3/2021, anh B không may xảy ra tai nạn và không qua khỏi, từ lúc xảy ra sự việc thì anh là người quản lý chiếc xe đó đến nay. Anh không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do bận công việc anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H2 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Huy H1 và là mẹ kế của của anh Nguyễn Thanh B. Bà đồng ý với ý kiến quan điểm của chồng bà. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thị C theo bà được biết hiện nay đang lao động tại nước ngoài, địa chỉ cụ thể ở đâu bà không nắm được. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này, bà xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị Trần Thị C và bà Nguyễn Thị L để biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên
chị C và bà L không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản ý kiến cho Tòa án.
* Trong quá trình giải quyết vụ án:
Ngày 14/12/2023, Tòa án huyện Lạng Giang tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản đối với 01 xe Huyndai, loại xe i10, màu đỏ, BKS 98A-103.21, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 040208 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 30/11/2018 mang tên Nguyễn Thanh B. Hiện nay anh Nguyễn Khánh H3 (Là em trai của anh Nguyễn Thanh B) đang quản lý chiếc xe ô tô này.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; khoản 3 Điều 474; điểm b khoản 5 Điều 477; khoản 2, khoản 3 Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 91, 95- Luật các tổ chức tín dụng; Điều 117, Điều 323 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
1. Buộc chị Trần Thị C trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/09/2024 là 214.919.463 đồng (Trong đó: Nợ gốc 121.474.488 đồng; lãi trong hạn: 4.786.899 đồng; lãi quá hạn: 88.658.076 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị Trần Thị C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh thoán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1811281096471 ngày 04/12/2018 và Hợp đồng cho vay (áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay vốn từng lần không tài sản bảo đảm trên Kênh Vpbank O) số LD2035002290 ngày 15/12/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) thì lãi suất mà chị Trần Thị C phải tiếp tục thanh toán cho V1 theo quyết
định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của V1.
2. Trường hợp chị Trần Thị C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1811281096471 ngày 04/12/2018 giữa anh Trần Thanh B1 (đã chết), chị Trần Thị C với Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Hyundai i10, số khung: 51AAHM449144, số máy: G3LAGM082804, BKS: 98A-103.21, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 30/11/2018 mang tên anh Nguyễn Thanh B do anh Nguyễn Khánh H3 đang quản lý.
3. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần V phải chịu chi phí xem xét thẩm định 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Xác nhận Ngân hàng Thương mại cổ phần V đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị C phải chịu 10.745.973 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.379.000 đồng tại Biên lai thu số 0007215, ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự khác vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Đương sự hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 21/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sa thải
