|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày: 07/9/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Chiểu
- Bà Võ Tuyết Kha
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử công khai vụ án thụ lý số 147/2024/TLST- DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2024/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1). Địa chỉ: Số B, N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tứ P; Chức vụ: Phó phòng giao dịch.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1992.
Anh Võ Thanh T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) anh Huỳnh Tứ P trình bày:
Khoản vay thứ nhất:
Ngày 27/02/2023, Ngân hàng TMCP S, Chi nhánh B, Phòng G với chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T có thỏa thuận và ký kết hợp đồng tín dụng số [...] theo đó, Ngân hàng cho chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T vay:
- Số tiền vay: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng)
- Lãi suất: 20%/năm
- Thời hạn vay 12 tháng, thời điểm trả hết nợ là ngày 27/02/2024.
- Bảo đảm tiền vay: Không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay. Bằng hợp đồng cho vay, bên vay đồng ý không huỷ ngang vô điều kiện cho Ngân hàng được toàn quyền xử lý (hoặc chỉ định bên thứ ba để xử lý) bất kỳ tài sản nào thuộc sỡ hữu của bên vay để thu hồi nợ trong trường hợp bên được cấp tín dụng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng cho vay.
- Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán quần áo may sẵn.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đến ngày 05/6/2024, chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 55.242.996 đồng (vốn gốc 46.672.712 đồng, lãi 8.570.284 đồng). Do chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 28/8/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 05/6/2024 chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 72.358.797 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 53.327.288 đồng.
- Lãi quá hạn: 19.031.509 đồng.
Khoản vay thứ hai:
Ngày 21/03/2022, Ngân hàng TMCP S, Chi nhánh B, Phòng G và chị Nguyễn Thị Mỹ X có thỏa thuận cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của chị Nguyễn Thị Mỹ X, ngày 23/03/2022 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho chị với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị Nguyễn Thị Mỹ X đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 180.500.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/6/2024 chị Nguyễn Thị Mỹ X đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 151.540.000 đồng.
Do chị Nguyễn Thị Mỹ X có một khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 2022326976970 tại Ngân hàng đã phát sinh quá hạn từ ngày 28/8/2023, vì vậy
cùng ngày này, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ thẻ của chị Nguyễn Thị Mỹ X sang nợ quá hạn và chị Nguyễn Thị Mỹ X có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ theo Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.
Tính đến ngày 06/5/2024, dư nợ thẻ của chị Nguyễn Thị Mỹ X là 69.791.050 đồng, trong đó:
- Nợ gốc 50.000.000 đồng
- Lãi quá hạn 19.791.050 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để chị X trả nợ, nhưng đến nay chị X vẫn chưa thanh toán nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại các Hợp đồng đã ký.
Khoản vay thứ ba:
Ngày 12/06/2019, Ngân hàng TMCP S, Chi nhánh B, Phòng G và anh Võ Thanh T có thỏa thuận cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của anh Võ Thanh T, ngày 12/06/2019 Ngân hàng cấp thẻ tính dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sau đó có đề nghị Ngân hàng nâng hạn mức lên 100.000.000 đồng ( Một trăm triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Võ Thanh T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 502.500.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 08/11/2023 anh Võ Thanh T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 467.136.127 đồng.
Do anh Võ Thanh T có một khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] tại Ngân hàng đã quá hạn từ ngày 28/08/2023, vì vậy cùng ngày này, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ thẻ của anh Võ Thanh T sang quá hạn và anh Võ Thanh T có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ theo Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ 15/08/2019.
Tính đến ngày 08/11/2023 dư nợ thẻ của anh Võ Thanh T là 94.758.854 đồng (Chín mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).
Khoản vay thứ tư:
Ngày 26/08/2022, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B – Phòng G và anh Võ Thanh T có thỏa thuận cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của
anh Võ Thanh T, ngày 26/8/2022 Ngân hàng cấp thẻ tính dụng cho anh Võ Thanh T với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Võ Thanh T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 132.964.148 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/11/2023 anh Võ Thanh T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 70.636.649 đồng.
Do anh Võ Thanh T có một khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] tại Ngân hàng đã quá hạn từ ngày 28/08/2023, vì vậy cùng ngày này, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ thẻ của anh Võ Thanh T sang quá hạn và anh Võ Thanh T có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ theo Điều 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.
Tính đến ngày 05/11/2023 dư nợ thẻ của ông Võ Thanh T là 89.260.724 đồng.
Tuy nhiên, anh Võ Thanh T đã thanh toán xong cho Ngân hàng khoản vay thứ ba và khoản vay thứ tư, nên Ngân hàng xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với hai khoản vay này. Ngân hàng tiếp tục yêu cầu Toà án tuyên buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 72.358.797 đồng, trong đó vốn gốc 53.327.288 đồng, lãi 19.031.509 đồng, tính đến ngày 05/6/2024. Chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền là 69.791.050 đồng, trong đó vốn gốc 50.000.000 đồng, lãi 19.791.050 đồng, tính đến ngày 05/6/2024. Chị Nguyễn Thị Mỹ X có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ thẻ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn anh Võ Thanh T và chị Nguyễn Thị Mỹ X đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T, chị X vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Khoản vay thứ nhất: Buộc chị X, anh T trả cho ngân hàng số tiền nợ vay tính đến ngày 05/6/2024 là 72.358.797 đồng (nợ gốc 53.327.288 đồng, lãi quá hạn 19.031.509 đồng) và lãi phát sinh.
- Khoản vay thứ hai: Buộc chị X trả cho ngân hàng số tiền nợ vay tính đến ngày 05/6/2024 là 69.791.050 đồng (nợ gốc 50.000.000 đồng, lãi quá hạn 19.031.509 đồng) và lãi suất phát sinh.
- Đối với khoản vay ngày 12/6/2019 với số tiền 94.758.854 đồng và khoản vay ngày 26/8/2022 với số tiền 89.260.000 đồng, Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện, đây là sự tự nguyện của ngân hàng nên được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 127 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yểu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với 02 trường hợp đồng tín dụng với tổng số tiền 184.019.578 đồng.
Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, khi thụ lý Tòa án thụ lý quan hệ tranh chấp dân sự, quá trình giải quyết vụ án xác định bị đơn có đăng ký kinh doanh nên đây là vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh quan hệ tranh chấp dân sự sang tranh chấp kinh doanh thương mại. Theo hợp đồng tín dụng thể hiện bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T có địa chỉ liên lạc ấp N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với khoản vay thứ nhất: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số [...], giấy nhận nợ, thể hiện chị X, anh T có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S, Chi nhánh B, Phòng G vào ngày 27/02/2023 để vay số
tiền 100.000.000 đồng, chị X, anh T đã được giải ngân với phương thức nhận chuyển nhượng tài khoản ngân hàng của chị X. Do chị X, anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 28/8/2023. Ngân hàng TMCP S yêu cầu chị X, anh T trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay tính đến ngày 05/6/2024 là 72.358.797 đồng (trong đó, vốn gốc 53.327.288 đồng, lãi quá hạn 19.031.509 đồng) và chị Nguyễn Thị Mỹ X, anh Võ Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[2.2] Đối với khoản vay thứ hai: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kim hợp đồng, thể hiện chị X có ký kết có ký kết hợp đồng với Ngân hàng TMCP S, Chi nhánh B, Phòng G vào ngày 21/3/2022 để cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng, chị X đã được giải ngân với phương thức nhận chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng. Do chị X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 28/8/2023. Ngân hàng TMCP S yêu cầu chị X trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay tính đến ngày 05/6/2024 là 69.791.050 đồng (trong đó, vốn gốc 50.00.000 đồng, lãi quá hạn 19.791.050 đồng) và chị Nguyễn Thị Mỹ X có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[3] Xét yêu cầu của Ngân hàng: Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn để giải quyết vụ án. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị X và anh T trả nợ vay và lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản ngày 12/6/2019 (khoản vay thứ ba) số tiền 94.758.854 đồng và khoản vay ngày 26/8/2022 (khoản vay thứ tư) số tiền 89.260.000 đồng. Xét thấy việc Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với hai khoản vay trên, đây là sự tự nguyện của Ngân hàng nên được chấp nhận, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu anh T và chị X trả tổng số nợ vay là 184.019.578 đồng.
[5] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí. Do chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T phải có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
- Khoản vay thứ nhất: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay tính đến ngày 05/6/2024 là 72.358.797 đồng (Trong đó, nợ gốc 53.327.288, lãi quá hạn 19.031.509 đồng).
- Khoản vay thứ hai: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X trả cho Ngân hàng số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 05/6/2024 là 69.791.050 đồng (Trong đó, tiền gốc 50.000.000 đồng, lãi quá hạn 19.791.050 đồng).
Kể từ ngày 06 tháng 6 năm 2024, chị Nguyễn Thị Mỹ X và anh Võ Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với hai khoản vay, tổng số tiền 184.019.578 đồng.
3. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch: Khoản vay thứ nhất: Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ X và ông Võ Thanh T phải chịu 3.618.000 đồng. Khoản vay thứ hai: Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu 3.490.000 đồng.
Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 7.584.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006806 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
