Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-PT

Ngày 11-01-2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đạt và ông Huỳnh Trọng Cẩn.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Liên Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số A T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2023/TLPT- DS ngày 24/10/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 215/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1981; địa chỉ: Số I T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạm trú tại: A L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;

    - Người đại diện theo uỷ quyền:

    • + Bà Nguyễn Thị L. Địa chỉ: Thôn F Đ, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
    • + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 2000. Địa chỉ liên lạc: 28 T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị N; Địa chỉ: Số D N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  4. Người làm chứng: Bà Trương Thị Ngọc H2, sinh năm 1987; Địa chỉ: 2 P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2022, bản tự khai ngày 20/5/2022, 27/10/2022, 22/3/2023 của Nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào ngày 01/6/2021, ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1 có thỏa thuận chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 663, tờ bản đồ số: 6, diện tích chuyển nhượng: 210m², địa chỉ: Xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hai bên ký hợp đồng đặt cọc và giao tiền đặt cọc tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ: F T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng. Do thửa đất này không đủ điều kiện tách thửa nên mục đích chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất không thực hiện được.

Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc và buộc bà Nguyễn Thị H1 trả lại số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng.

Về phía bị đơn là bà Nguyễn Thị H1 trình bày tại Đơn trình bày ngày 03/6/2022, biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2022 và tại các buổi làm việc tại Toà án:

Việc ký Hợp đồng đặt cọc ngày 01/6/2021, giữa bà và ông Nguyễn Mạnh H tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế (địa chỉ: F T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) là không đúng sự thật. Bà thừa nhận chữ ký trong hợp đồng đặt cọc là chữ ký của bà nhưng khi bà đến văn phòng C Hồ Phi H3 để ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có bà H1, bà Hồ Thị N, ông T, không có ông H. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc xong bà không nhận tiền của ai. Bà hoàn toàn không biết và chưa từng gặp ông Nguyễn Mạnh H.

Về số tiền đặt cọc, do trước đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà đang thế chấp tại Ngân hàng H4 với số tiền 300.000.000 đồng, sau đó bà cùng với bà N, ông Nguyễn T1 (là người bà N giới thiệu đến để làm thủ tục tách thửa) đến Ngân hàng để nộp tiền vào Ngân hàng và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà. Số tiền 300.000.000 đồng thanh toán cho Ngân hàng là do bà N bỏ tiền ra để thanh toán. Trước khi bà thỏa thuận với bà N chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của bà nên bà N có đặt cọc cho bà số tiền 50.000.000 đồng. Như vậy bà đã nhận tiền đặt cọc của bà N hai lần tổng cộng là 350.000.000 đồng.

Sau khi bà N bỏ tiền ra thanh toán xong khoản nợ vay của bà tại Ngân hàng H5, phía Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà thì bà giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà cho bà N, bà N giao cho ông T1 để làm thủ tục tách thửa. Quá trình tách thửa không thực hiện được nên bà đã trả lại cho bà N số tiền 190.000.000 đồng. Hiện nay bà còn nợ bà N 160.000.000 đồng, bà sẽ trả sau.

Nay ông Nguyễn Mạnh H khởi kiện bà, yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc và buộc bà trả lại số tiền đã đặt cọc là 350.000.000 đồng thì bà không đồng ý trả tiền cọc cho ông H vì bà không nhận tiền của ông H, thống nhất đề nghị hủy hợp đồng đặt cọc và đề nghị Tòa án buộc ông H trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị N trình bày:

Vào khoảng tháng 11 năm 2020 qua môi giới của ông Nguyễn T1 (là ông Trương Ngọc Ư, chồng bà H2, đã chết vào ngày 09/11/2021) bà N và bà H1 có thỏa thuận chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của bà H1 tại thôn T, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế với giá 1.180.000.000 đồng. Khi đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1 đang thế chấp tại Ngân hàng H5. Bà N đã giao 50.000.000 đồng tiền đặt cọc cho bà H1 và bà đã bỏ ra thêm 300.000.000 đồng nộp vào Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1 đã thế chấp trong Ngân hàng. Sau khi lấy được lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H1 giao giấy này cho bà N, rồi bà N đã giao lại cho ông T1 để làm thủ tục tách thửa. Như vậy bà đã giao tiền đặt cọc cho bà H1 hai lần tổng cộng là 350.000.000 đồng. Vì không tách thửa được nên bà H1 đã trả lại cho bà số tiền đã đặt cọc là 190.000.000 đồng.

Người làm chứng là bà Trương Thị Ngọc H2 trình bày:

Sau khi lo đám tang cho chồng xong (ông Trương Ngọc U), bà phát hiện trong nhà có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị H1. Khoảng sau 01 tuần, ông Nguyễn Mạnh H đến nhà tìm bà và đưa ra 01 hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Mạnh H nên bà giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị H1 cho ông H (hai bên không viết giấy giao nhận). Ngoài ra bà không biết gì thêm.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:

Căn cứ: khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 425, 427 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh H: Hủy hợp đồng đặt cọc được chứng thực ngày 01/6/2021 tại Văn phòng C; địa chỉ: F T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh H đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho ông Nguyễn Mạnh H số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng.
  3. Buộc ông Nguyễn Mạnh H phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị H1 cho bà Nguyễn Thị H1.
  4. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị H1 phải án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng

- Ông Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.500.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về việc thi hành án, quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/8/2023 ông Nguyễn Mạnh H có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thị xã Hương Trà theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền cọc là 350.000.000 đồng.

Xác minh ý kiến của công chứng viên Phòng C1 ngày 06/12/2023 được biết: Hợp đồng đặt cọc giữa ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1 được công chứng tại Phòng C1. Nội dung và hình thức của Hợp đồng đặt cọc được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm công chứng có mặt ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1. Việc giao nhận số tiền 350.000.000 đồng thì công chứng viên không biết vì đây là vấn đề dân sự giữa các bên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các bên đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị: Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.
  • Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tính hợp pháp của kháng cáo:

Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh H kháng cáo trong thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 273, nội dung kháng cáo phù hợp với Điều 271, Điều 272; đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để đưa ra xét xử phúc thẩm.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền cọc là 350.000.000 đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Vào ngày 01/6/2021, tại Văn phòng C, tỉnh Thừa Thiên Huế giữa ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1 có ký kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo giao kết chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 663, tờ bản đồ số: 06, diện tích chuyển nhượng: 210m², địa chỉ: Xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế với số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng. Do thửa đất các bên thực hiện chuyển nhượng không đủ điều kiện tách thửa nên việc giao kết chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của thửa đất này không thực hiện được nên ông H yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc này được bà H1 chấp nhận.

Đối với số tiền đặt cọc: Xét lời khai của phía nguyên đơn cho rằng, tại văn phòng công chứng Hồ Phi H3 sau khi hai bên ký hợp đồng đặt cọc thì ông H đã đưa cho bà H1 350.000.000 đồng tiền đặt cọc. Lời khai này không được bà H1 thừa nhận. Bà H1 khẳng định, sau khi ký hợp đồng đặt cọc xong bà không nhận tiền của ai, bà hoàn toàn không biết và chưa từng gặp ông Nguyễn Mạnh H. Theo bà H1, trước đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà đang thế chấp tại Ngân hàng H4 với số tiền 300.000.000 đồng, sau đó bà cùng với bà Hồ Thị N, ông Nguyễn T1 (là người bà N giới thiệu đến để làm thủ tục tách thửa) đến Ngân hàng để nộp tiền vào Ngân hàng và nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà. Số tiền 300.000.000 đồng thanh toán cho Ngân hàng là do bà N bỏ tiền ra để thanh toán. Trước khi bà thỏa thuận với bà N chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của bà nên bà N có đặt cọc cho bà số tiền 50.000.000 đồng. Như vậy bà đã nhận tiền đặt cọc của bà N hai lần tổng cộng là 350.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngoài lời khai ông H không đưa ra được chứng cứ, tài liệu nào chứng minh cho việc hai bên đã giao nhận tiền, hơn nữa lời khai của bà H1 phù hợp với lời khai của bà N, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng cho nguyên đơn.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh H không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh H, giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.

Áp dụng Điều 425, Điều 427 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh H: Hủy hợp đồng đặt cọc được chứng thực ngày 01/6/2021 tại Văn phòng C; địa chỉ: F T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh H đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho ông Nguyễn Mạnh H số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng.
  3. Buộc ông Nguyễn Mạnh H phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị H1 cho bà Nguyễn Thị H1.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
    • - Ông Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.500.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 8.750.000 đồng mà ông H đã nộp theo biên lai số 0001370 ngày 18/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông H còn phải nộp thêm số tiền 8.750.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền ông H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0004872 ngày 25/8/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hương Trà.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Văn Đạt

Huỳnh Trọng Cẩn

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Đào Vi

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND thị xã Hương Trà;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - Chi cục THA thị xã Hương Trà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Tòa DS;
  • - Lưu HCTP; Lưu HS.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 01/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Hoá khởi kiện Nguyễn Thị Hanh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger