Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-PT

Ngày 16 - 11 - 2023

V/v Xin ly hôn

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lại Thị Hiếu.
Các Thẩm phán:Bà Đinh Thị Mai Lan;
Ông Đinh Huy Hiệp.
- Thư ký phiên tòa:Ông Phạm Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La:Bà Phạm Thu Hà – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/HNGĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc Xin ly hôn.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bắc Yên bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Hạng A C, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản T, xã L, huyện B, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Chị Mùa Thị N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản T, xã L, huyện B, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  3. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2023, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh H A C trình bày:

Anh Hạng A C và chị Mùa Thị N kết hôn với nhau ngày 29/9/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2018 chị Mùa Thị N bỏ nhà đi đâu không ai biết, chị N không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không chăm sóc chồng, con. Đến nay, anh H A C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên giải quyết cho anh C và chị N được ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh H A C và chị Mùa Thị N có 03 con chung là cháu Hạng Mai K, sinh ngày 27/02/2012, cháu Hạng Mai T, sinh ngày 11/3/2013 và cháu Hạng Thanh S, sinh ngày 12/02/2017. Hiện tại cả 03 cháu đang ở với anh Hạng A C. Chị Mùa Thị N đã bỏ nhà đi không quan tâm, chăm sóc các con nên không có điều kiện chăm sóc các cháu. Anh C có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu chị Mùa Thị N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh Hạng A không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Về nợ chung: Anh Hạng A xác định anh C và chị N không vay nợ của ai.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Mùa Thị N đến Tòa án để ghi ý kiến của chị đối với yêu cầu khởi kiện của anh H A Chơ nhưng chị Mùa Thị N không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của chị N.

Tại biên bản lấy ý kiến ngày 14/6/2023, cháu Hạng Mai K và cháu Hạng Mai T có nguyện vọng được ở với anh Hạng A C. Anh Hạng A C có đơn xin không tiến hành hòa giải và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Mùa Thị N tham gia phiên họp nhưng chị N không đến nên không tiến hành được phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 08/2023/HNGĐ-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh H A C được ly hôn với chị Mùa Thị N.
  2. Về con chung:

    Giao cháu Hạng Mai K, sinh ngày 27/02/2012, cháu Hạng Mai T, sinh ngày 11/3/2013 và cháu Hạng Thanh S, sinh ngày 12/02/2017 cho anh H A Chơ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chị Mùa Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La ra Quyết định kháng nghị số: 08/QĐ-VKS-HNGĐ kháng nghị toàn bộ Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 08/2023/HNGĐ-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La theo trình tự phúc thẩm với nội dung: Anh C chưa đủ điều kiện khởi kiện yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình do chỉ có căn cứ xác định chị N vắng mặt tại nơi cư trú, chưa được Tòa án tuyên bố mất tích. Do đó, chị N không biết việc anh C khởi kiện, không nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án cũng như thực hiện nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Giữ nguyên Quyết định kháng nghị số: 08/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Theo đơn khởi kiện của anh H A Chơ yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Mùa Thị N, nơi cư trú cuối cùng của chị N tại huyện B, tỉnh Sơn La. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án Xin ly hôn và xác định quan hệ pháp luật là đúng quy định, đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Ngày 29/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐ-VKS-HNGĐ đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 08/2023/HNGĐ-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Quyết định kháng nghị được thực hiện đúng quy định tại Điều 278, Điều 279, khoản 1 Điều 280, Điều 281 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.3] Tại Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị Mùa Thị N, đến nay vẫn chưa có tin tức gì của chị N. Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và giấy triệu tập tại trụ sở Ủy ban nhân xã và tại nơi cư trú của chị Mùa Thị N. Anh Hạng A C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo hồ sơ thể hiện chị N đi đâu không rõ từ năm 2018, như vậy, tại vụ án này chị Mùa Thị N chưa được Tòa án tuyên bố mất tích, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Hạng A C và chị Mùa Thị N là có thiếu sót về thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La kháng nghị cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng là đúng.

[2.2] Tuy nhiên, việc vi phạm thủ tục tố tụng này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.2.1] Theo tài liệu bổ sung tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên đã thụ lý giải quyết đơn yêu cầu của anh H A C về việc tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Mùa Thị N trước khi giải quyết vụ án anh C xin ly hôn; đồng thời việc Yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung gì là quyền của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự về “Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự”. Tài liệu bổ sung của Tòa sơ thẩm thể hiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết việc dân sự và ra Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 13/4/2023 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Mùa Thị N theo đúng quy định của pháp luật.

[2.2.2] Kết quả xác minh bổ sung của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên tại công an xã và Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Sơn La đều thể hiện: Chị Mùa Thị N bỏ nhà đi đâu không ai rõ từ năm 2018, gia đình đã tìm kiếm chị N nhưng cho đến thời điểm hiện tại (ngày 25/10/2023) vẫn không có thông tin liên lạc gì của chị N và đến nay vẫn chưa trở về địa phương.

[2.2.3] Xét thấy chị N vắng mặt tại nơi cư trú tính đến thời điểm anh C xin ly hôn đã rất lâu (khoảng 05 năm), đã có thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật, đủ điều kiện để tuyên bố mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự. Việc chị N đi đâu không rõ một thời gian dài làm kết quả mục đích hôn nhân của anh Hạng A C đã không đạt được, anh C không được quan tâm, chăm sóc, cùng nuôi dưỡng giáo dục con cái từ người vợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh Hạng A C. Do đó, mặc dù việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Hạng A C và chị Mùa Thị N là có thiếu sót về thủ tục tố tụng, tuy nhiên không làm thay đổi bản chất vụ án và đảm bảo quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải hủy bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên và đình chỉ giải quyết vụ án như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.

Từ những phân tích trên, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:

    Không chấp nhận kháng nghị số: 08/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La; Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 08/2023/HNGĐ-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023)./.

Nơi nhận:

  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La;
  • Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên;
  • Chi cục THADS huyện Bắc Yên;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Phòng KTNV&THA;
  • Tổ Hành chính tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Thị Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2023/HNGĐ-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về xin ly hôn

  • Số bản án: 01/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger