Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 01/2024/KDTM - ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng

(VCB – Thành, Hữu)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Văn Quảng

Bà Tô Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/4/2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST - DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp "Hợp đồng tín dụng". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX - ST ngày 11/01/2024 và các Quyết định hoãn phiên toà số: 01/2024/QĐST - KDTM ngày 23/02/2024, số 03/QĐST - KDTM ngày 22/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (V)

Địa chỉ: số A, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D - Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Bá T – Giám đốc Chi nhánh T3 - Ngân hàng TMCP N.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị H - Trưởng phòng G1 - Chi nhánh T3 - Ngân hàng TMCP N.

Bị đơn:Anh Đỗ Văn T1 - sinh năm 1972

1

Chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) - sinh năm 1980

Địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt bà H; Vắng mặt anh T1, chị H1 tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 có ký với Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T3 – Phòng G1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số: 02101/HĐTD/22/00267 ngày 24/8/2022, mục đích vay thanh toán chi phí vốn lưu động phục vụ kinh doanh vật liệu xây dựng với số tiền 1.000.000.000₫ – lãi suất cho vay ban đầu 8,3%/năm. Lãi suất áp dụng với dư nợ gốc quá hạn bằng 110% lãi suất trong hạn. Phương thức cho vay theo hạn mức, thời hạn cho vay là 6 tháng. Cùng ngày anh T1, chị H1 nhận nợ số tiền: 1.000.000.000 đồng với khế ước nhận nợ 02101/HĐTD/22/ 00267 (Thời hạn cho vay: Từ ngày 24/8/2022 đến hết ngày 19/02/2023).

Để đảm bảo khoản vay anh T1, chị H1 có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12/20/00095 ngày 29/7/2020 tại Văn phòng C và có đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 29/7/2020 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 305, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, diện tích 1.127,6m2, đất ở tại nông thôn 400m2, đất trồng cây lâu năm 727,6m2 đã được Sở TN&MT tỉnh T cấp GCNQSDĐ số phát hành CK 778294, ngày 26/10/2017 mang tên Đỗ Văn T1, Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) cùng toàn bộ tài sản trên đất.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến tháng 02/2023 anh T1, chị H1 không tất toán khoản nợ cho Ngân hàng theo thoả thuận. Ngân hàng đã đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ cho anh T1, chị H1 nhưng anh, chị không có thiện chí hợp tác với Ngân hàng để giải quyết khoản nợ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP N đề nghị Toà án buộc anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) phải trả cho Ngân hàng:

- Số tiền theo hợp đồng tín dụng số: 02101/HĐTD/22/00267 ngày 24/8/ 2022, tạm tính đến hết ngày 16/4/2024 là: 939.099.268 (Chín trăm ba mươi chín triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng, gồm: Nợ gốc là 838.363.481đ + nợ lãi 100.735.787đ. Cùng toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày 17/4/2024 đến ngày thanh toán xong khoản nợ theo đúng mức lãi suất thỏa

2

thuận trong hợp đồng tín dụng.

- Trường hợp anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) không thực hiện và thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 305, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, đã được cấp Giấy GCNQSDĐ số CK778294 ngày 26/10/2017 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

- Đối với khoản tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đề nghị anh T1, chị H1 phải chịu toàn bộ.

* Tại bản tự khai bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) trình bày: Chị và anh T1 ly hôn theo bản án số 05/2019/HNGĐ – ST ngày 06/3/2019 của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tuy đã ly hôn nhưng do Giấy chứng nhận QSDĐ số CK 778394 ngày 26/10/2017 vẫn mang tên chị và anh Đỗ Văn T1. Năm 2022, anh T1 có nhu cầu vay vốn với Ngân hàng TMCP N nên có gọi chị về ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Khi đó vì thương các con và tạo điều kiện cho anh T1 làm ăn nên chị đã ký hợp đồng. Mục đích vay vốn để anh T1 bổ sung vốn kinh doanh. Anh Đỗ Văn T1 là người trực tiếp sử dụng vốn vay, khi về ký hợp đồng chị cũng nói với anh T1 là anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với khoản vay này. Chị không có trách nhiệm và quyền lợi đối với khoản vay này cũng như tài sản sau ly hôn. Nay Ngân hàng TMCP N khởi kiện, quan điểm của chị: anh Đỗ Văn T1 phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với nợ gốc và lãi phát sinh cũng như các chi phí đối với khoản vay này. Trong trường hợp anh T1 không thanh toán được khoản nợ thì đề nghị Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Toà án đã tiến hành lấy lời khai ông Đỗ Duy H2 bố đẻ của Đỗ Văn T1, ông trình bày: Ông có biết việc anh T1, chị H1 vay vốn của Ngân hàng TMCP N chi nhánh T3 nhưng không biết cụ thể anh, chị vay nợ và thế chấp tài sản như thế nào. Ông có nói cho anh T1, chị H1 biết việc Ngân hàng khởi kiện và Toà án thụ lý giải quyết thì anh T1 nói để cuối năm 2023 đầu năm 2024 anh về trả cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và

3

việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 116, Điều 117, Điều 299, Điều 303, Điều 322, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, xử:

* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2).

* Buộc anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền theo hợp đồng tín dụng số: 02101/HĐTD/22/00267 ngày 24/8/2022, tạm tính đến hết ngày 16/4/2024 là: 939.099.268 (Chín trăm ba mươi chín triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng, gồm: Nợ gốc là 838.363.481đ + nợ lãi 100.735.787đ. Cùng toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày 17/4/2024 đến ngày thanh toán xong khoản nợ theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) không thực hiện và thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 305, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số CK778294 ngày 26/10/2017 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

* Ngoài ra còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo đối với các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP N và anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) là tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và các cá nhân với mục đích kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đỗ Văn T1 đang sinh sống, làm việc tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hợp đồng được ký kết giữa Chi nhánh Ngân hàng TMCP N tại Thái Bình – Phòng G1, do đó Ngân hàng

4

khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đỗ Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Chị Nguyễn Thị Thúy H1 có đề nghị vắng mặt tại phiên toà. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T1, chị H1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 24/8/2022, anh T1, chị H1 có ký với Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T3 – Phòng G1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số: 02101/HĐTD/22/00267. Việc giao kết hợp đồng thực hiện là hoàn toàn tự nguyện, các bên tham gia giao dịch đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức hợp đồng đảm bảo, việc cho vay nhằm mục đích kinh doanh không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Do đó hợp đồng tín dụng này là hợp pháp, đúng quy định tại Điều 116, Điều 117 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng anh T1, chị H1 không tất toán khoản nợ cho Ngân hàng theo thoả thuận. Tuy đã được Ngân hàng tạo điều kiện làm việc nhiều lần, thông báo, đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ cho anh T1, chị H1 nhưng anh, chị không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử, xét thấy anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của Ngân hàng được pháp luật bảo vệ, do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc anh, chị phải trả cho Ngân hàng số tiền: 939.099.268 (Chín trăm ba mươi chín triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng đồng tạm tính đến hết ngày 16/4/2024 là có căn cứ phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

[2.3] Do anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Kể từ ngày 23/02/2023 Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn là: 110% x lãi suất trong hạn. HĐXX thấy: Việc anh T1, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng D1 Ngân hàng chuyển nợ quá hạn đối với anh, chị là phù hợp với quy định của pháp luật và thoả thuận giữa các bên. Hợp đồng vay giữa anh T1, chị H1 và Ngân hàng là hợp đồng vay giữa tổ chức tín dụng với cá nhân nên lãi suất được áp dụng theo Luật các tổ chức tín dụng. Việc tính lãi quá hạn đối với anh, chị theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ cần chấp nhận và phù hợp với quy định tại Điều 91,

5

Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn tại Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[2.4] Do anh T1, chị H1 (T2) vay tại thời điểm anh, chị đã ly hôn vì vậy đây là khoản nợ chung của anh, chị. Theo chị H1 (T2) trình bày chị không dùng số tiền vay này, chị cho rằng anh T1 là người phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với khoản nợ theo thoả thuận của anh, chị. Tuy nhiên chị không cung cấp được cho Toà án về thoả thuận này cũng như không có căn cứ gì chứng minh đây là khoản nợ riêng của anh T1 và anh T1 nhận trách nhiệm toàn bộ về khoản nợ này. Vì vậy cần buộc nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với anh, chị theo kỷ phần số dư nợ chưa trả cho Ngân hàng mỗi người 1/2.

[2.5] Về hợp đồng thế chấp: Khi giao kết hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ các đương sự đã tự nguyện ký kết hợp đồng thế chấp tài sản và tài sản bảo đảm được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Thái Bình. HĐXX xét thấy việc thế chấp tài sản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm nên trường hợp anh T1, chị H1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì cần phải xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 299 và 303 Bộ luật Dân sự. Trường hợp anh T1, chị H1 tất toán xong khoản nợ thì Ngân hàng phải hoàn trả lại cho anh, chị G chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh, chị theo quy định tại Điều 322 Bộ luật Dân sự.

[3] Về chi phí tố tụng: Đối với khoản chi phí xem xét thẩm định tại chỗ do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận vì vậy anh T1, chị H1 phải chịu toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ này.

[4] Về án phí: Anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 30; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các

6

Điều 299, Điều 303, Điều 322, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N đối với anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (tên gọi khác: T2).

- Buộc anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là: 939.099.268 (Chín trăm ba mươi chín triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi tám) đồng theo hợp đồng tín dụng số: 02101/HĐTD/22/ 00267 ngày 24/8/2022, cùng toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày 17/4/2024 đến ngày thanh toán xong khoản nợ theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trong đó kỷ phần của anh Đỗ Văn T1 là 469.549.634 (bốn trăm sáu mươi chín triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi tư) đồng + kỷ phần của chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) là 469.549.634 (bốn trăm sáu mươi chín triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi tư) đồng.

- Trường hợp anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 305, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, đã được cấp Giấy GCNQSDĐ số CK778294 ngày 26/10/2017 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng cho đến khi thực tế thanh toán xong khoản nợ tại Ngân hàng TMCP N.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án

7

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) mỗi người phải chịu 22.782.000 (hai mươi hai triệu bẩy trăm tám mươi hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc anh Đỗ Văn T1 và chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) mỗi người phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Trả lại Ngân hàng TMCP N 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng số: 0002471 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 12/10/2023.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Văn T1, chị Nguyễn Thị Thúy H1 (T2) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS huyện Tiền Hải;
  • - THADS huyện Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM - ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VCB- Th, H tr
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger