Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM-ST

Ngày: 15/4/2024.

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Hội.

2. Ông Nguyễn Văn Thi.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 03/2023/TLST-KDTM ngày 01/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST- KDTM ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình P, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện K.

Địa chỉ chi nhánh: Số C V, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () Hồ Trung S.

Địa chỉ trụ sở: 199 N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: Anh Hồ Trung S – Chủ tịch kiêm Giám đốc công ty.

Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Bích V, sinh năm 1985 và anh Hồ Trung S, sinh năm 1980;

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Ông P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; ông S và bà V lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng, được bổ sung tại bản tự khai ngày 01/12/2023 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng ông Trần Đình P trình bày:

Công ty TNHH MTV H2 đã vay vốn tại Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), theo Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 và Giấy nhận nợ số 5008LDS202104852 ngày 20/9/2021; Phương thức vay vốn: Theo hạn mức tín dụng; Mục đích sử dụng tiền vay: Chi phí mua nguyên nhiên liệu và tiền nhân công để phục vụ cho Công ty TNHH MTV H2 năm 2021- 2022. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn: Kể từ ngày giải ngân đến hết ngày 31/12/2021 là 8.2%/năm; Sau ngày 31/12/2021 là 9.1%/năm; Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 20/9/2022.

Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 được bảo đảm bằng các hợp đồng thế chấp sau:

+ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 429-01 ngày 17/8/2018 được ký kết giữa A Chi nhánh huyện K với ông Hồ Trung S và bà Đỗ Thị Bích V; Hợp đồng này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2018; Tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 030932 do UBND huyện K cấp ngày 06/11/2006.

+ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 430-01 ngày 17/8/2020 được ký kết giữa A Chi nhánh huyện K với ông Hồ Trung S và bà Đỗ Thị Bích V; Hợp đồng này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2018; Tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 146299 do UBND huyện K cấp ngày 06/7/2005.

Trong thời gian vay vốn, công ty TNHH MTV H2 đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng. Đồng thời Ngân hàng cũng nhiều lần thông báo đòi nợ, đôn đốc, nhắc nhở bằng nhiều hình thức như: Xuống nhà gặp trực tiếp người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Hồ Trung S yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ trả nợ; lập các Biên bản làm việc với khách hàng... Tuy nhiên, bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cố tình không hợp tác, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng. Quá trình vay vốn, bị đơn chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền nợ gốc là 217.800.000 đồng.

Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV H2 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 09/10/2023 là 1.927.495.686 đồng (Một tỷ, chín trăm hai mươi bảy triệu, bốn trăm chín mươi lăm nghìn, sáu trăm tám mươi sáu đồng), bao gồm: Nợ gốc là 1.782.200.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 46.210.249 đồng và nợ lãi quá hạn là 99.085.437 đồng.

Ngoài ra, Công ty TNHH MTV H2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 10/10/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ và còn phải trả số tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả (theo cam kết đã ký trong Hợp đồng tín dụng).

Tại bảng kê tính lãi, Ngân hàng bổ sung yêu cầu công ty TNHH MTV H2 còn phải trả tiếp số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn phát sinh của Hợp đồng từ ngày 10/10/2023 đến hết ngày 15/4/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền nợ lãi trong hạn là 83.978.241 đồng và số tiền nợ lãi quá hạn 41.989.120 đồng. Tổng cộng, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn công ty TNHH MTV H2 phải trả cho Ngân hàng là 2.053.463.047 đồng (Hai tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 1.782.200.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 130.188.490 đồng và nợ lãi quá hạn là 141.074.557 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 15/4/2024).

Ngoài ra theo thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng còn yêu cầu: Trường hợp bị đơn công ty TNHH MTV H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông S, bà V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 429-01 ngày 17/8/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 430-01 ngày 17/8/2020 để thu hồi nợ theo quy định.

Ngoài ra theo Cam kết bảo lãnh của ông S, bà V ngày 01/02/2018 nên Ngân hàng còn yêu cầu: Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông S, bà V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn công ty TNHH MTV H2 – đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích V: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã triệu tập người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông S – đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà V đến Tòa án làm việc để nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án, làm bản tự khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa do Tòa án tổ chức nhưng ông S, bà V luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông S, bà V theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm:

  1. 01 Quyết định ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo - PC ngày 01/12/2022 của Ngân hàng N (bản sao);
  2. 01 Giấy uỷ quyền số 295/NHNo.KBĐGL ngày 24/11/2023 giữa ông Đỗ Thanh B và ông Trần Đình P (bản chính);
  3. 01 Hợp đồng tín dụng số 5008LAV2021102999 ngày 20/9/2021 giữa A chi nhánh huyện K với công ty TNHH MTV H2 (bản sao);
  4. 01 Giấy nhận nợ ngày 20/9/2021 của công ty TNHH MTV H2 (bản sao);
  5. 01 Phương án sử dụng vốn của công ty TNHH MTV H2 ngày 20/9/2021 (bản sao);
  6. 01 Phương án sản xuất kinh doanh năm 2021-2022 của công ty TNHH MTV H2 ngày 20/9/2021 (bản sao);
  7. 01 Giấy xác nhận hiện trạng nhà ở ngày 01/02/2018 của anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  8. 01 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  9. 01 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 số 429-01 ngày 17/8/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  10. 01 Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 01/02/2018 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  11. 01 Cam kết bảo lãnh ngày 01/02/2018 của anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  12. 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 030932 do UBND huyện K, tỉnh Gia Lai cấp ngày 06/11/2006 (bản sao);
  13. 01 Giấy xác nhận hiện trạng nhà ở ngày 01/02/2018 của anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  14. 01 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  15. 01 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 số 430-01 ngày 17/8/2020 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  16. 01 Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 01/02/2018 giữa bên nhận thế chấp là A chi nhánh huyện K với bên thế chấp là anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  17. 01 Cam kết bảo lãnh ngày 01/02/2018 của anh Hồ Trung S và chị Đỗ Thị Bích V (bản sao);
  18. 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H02259 do UBND huyện K, tỉnh Gia Lai cấp ngày 06/7/2005 (bản sao);
  19. 02 Giấy báo nợ đến hạn ngày 01/3/2022 và ngày 01/7/2022 (bản sao);
  20. 01 Thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 21/7/2022 (bản sao);
  21. 03 Biên bản làm việc v/v giải quyết nợ vay ngân hàng quá hạn ngày 16/5/2022; ngày 29/7/2022 và ngày 24/02/2023 (bản sao);
  22. 01 Bảng kê tạm tính lãi tên khách hàng công ty TNHH MTV H2 (bản chính);
  23. 01 Sổ giao dịch tiền vay tên khách hàng công ty TNHH MTV H2 (bản chính);
  24. 02 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Trung SĐỗ Thị Bích V (bản sao);
  25. 01 Sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Hồ Trung S (bản sao);
  26. 01 Điều lệ công ty gồm 13 trang của công ty TNHH MTV H2 (bản sao);
  27. 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh của công ty TNHH MTV H2 (bản pho to);
  28. 01 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (bản pho to);

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Công ty TNHH MTV H2, có địa chỉ tại A N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, điều này thể hiện qua chứng cứ do Ngân hàng giao nộp là bản pho to Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh của công ty TNHH MTV H2.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 30, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 96, 108, 144, 147, 155, 156, 157, 158, 179, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 117, 118, 119, 280, 299, 317, 319, 322, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn công ty TNHH MTV H2 phải trả cho Ngân hàng số tiền là 2.053.463.047 đồng (Hai tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 1.782.200.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 130.188.490 đồng và nợ lãi quá hạn là 141.074.557 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 15/4/2024). Công ty TNHH MTV H2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự:

Ngân hàng N (tổ chức có đăng ký kinh doanh) khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH MTV H2 (tổ chức có đăng ký kinh doanh), có địa chỉ trụ sở tại: A N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập người đại diện theo pháp luật của bị đơn – đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà V đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng ông S và bà V đều vắng mặt không có lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là ông Trần Đình P vắng mặt nhưng ông P có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với công ty TNHH MTV H2 thấy rằng: Hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty là ông S, được đóng dấu của Công ty- chủ thể tham gia hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp theo quy định tại các Điều 117, Điều 118, và Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 và Giấy nhận nợ số 5008LDS202104852 ngày 20/9/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với công ty TNHH MTV H2 đã thể hiện rõ việc Ngân hàng cho công ty TNHH MTV H2 vay và nhận nợ số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); Phương thức vay vốn: Theo hạn mức tín dụng; Mục đích sử dụng tiền vay: Chi phí mua nguyên nhiên liệu và tiền nhân công để phục vụ cho Công ty TNHH MTV H2 năm 2021- 2022. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn: Kể từ ngày giải ngân đến hết ngày 31/12/2021 là 8.2%/năm; Sau ngày 31/12/2021 là 9.1%/năm; Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 20/9/2022. Khoản vay này được bảo đảm bằng:

+ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 429-01 ngày 17/8/2018 được ký kết giữa A Chi nhánh huyện K với ông Hồ Trung S và bà Đỗ Thị Bích V; Hợp đồng này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2018; Tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 030932 do UBND huyện K cấp ngày 06/11/2006.

+ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 430-01 ngày 17/8/2020 được ký kết giữa A Chi nhánh huyện K với ông Hồ Trung S và bà Đỗ Thị Bích V; Hợp đồng này đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2018; Tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 146299 do UBND huyện K cấp ngày 06/7/2005.

Sau khi vay tiền công ty TNHH MTV H2 đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, đã không trả được tiền nợ gốc và lãi theo cam kết mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở công ty trả nợ. Công ty đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên buộc Ngân hàng phải chuyển thành nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở. Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn – đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà V luôn vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập đến làm việc, không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Công ty TNHH MTV H2, ông S và bà V đã tự chối bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, không trình bày quan điểm về nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 2.053.463.047 đồng (Hai tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 1.782.200.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 130.188.490 đồng và nợ lãi quá hạn là 141.074.557 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 15/4/2024) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tại Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 giữa hai bên còn thoả thuận:

Trường hợp bị đơn công ty TNHH MTV H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông S, bà V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 429-01 ngày 17/8/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 430-01 ngày 17/8/2020 để thu hồi nợ theo quy định.

Theo Bản Cam kết bảo lãnh ngày 01/02/2018 của ông S, bà V nên Ngân hàng đã yêu cầu: Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông S, bà V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Xét các thỏa thuận này của hai bên là tự nguyện và đúng pháp luật nên Ngân hàng có các quyền này khi yêu cầu thi hành án đối với nghĩa vụ trả nợ của bị đơn.

Ngày 05/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Kbang đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là:

- Thửa đất số 05a tờ bản đồ số 54 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 030932, do UBND huyện K cấp ngày 06/11/2006 đứng tên người sử dụng đất là hộ ông bà: Lê Văn K – Lê Thị H, đã chuyển nhượng cho ông Hồ Trung S ngày 20/4/2017, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố A (trước đây là tổ dân phố B) thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế đã xác định: Thửa đất thế chấp đúng vị trí, số tờ, số thửa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 030932 và có diện tích thực tế đang sử dụng là 600m² (trong đó có 120m² đất ở và 480m² đất trồng cây hàng năm khác), phù hợp với diện tích đã được cấp trong GCNQSDĐ số AH 030932 và đất không có tranh chấp với bên thứ ba.

- Thửa đất số 05 tờ bản đồ số 54 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 146299, do UBND huyện K cấp ngày 06/7/2005 đứng tên người sử dụng đất là hộ ông bà: Bùi Xuân H1 – Trần Thị P1, đã chuyển nhượng cho ông Hồ Trung S ngày 10/4/2017, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố A (trước đây là tổ dân phố B) thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế đã xác định: Thửa đất thế chấp đúng vị trí, số tờ, số thửa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 146299 và có diện tích thực tế đang sử dụng là 3.385,2m² (trong đó có 400m² đất ở và 2.985,2m² đất trồng cây hàng năm khác), phù hợp với diện tích đã được cấp trong GCNQSDĐ số AB 146299 và đất không có tranh chấp với bên thứ ba.

[3] Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp.

Bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định là: 72.000.000 đồng + (53.463.047 đồng x 2%) = 73.069.260 đồng (Bảy mươi ba triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm sáu mươi đồng).

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Do nguyên đơn đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 93; Điều 94; Điều 95; Điều 96; Điều 108; Điều 144, Điều 147; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 179; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 322, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, cụ thể như sau:

Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 5008LAV202102999 ngày 20/9/2021 là 2.053.463.047 đồng (Hai tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, không trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 1.782.200.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 130.188.490 đồng và nợ lãi quá hạn là 141.074.557 đồng (các khoản lãi tính đến ngày 15/4/2024). Công ty TNHH MTV H2 phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh cho nguyên đơn theo thoả thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng giữa hai bên từ ngày 16/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp bị đơn Công ty TNHH MTV H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông S, bà V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 429 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 429-01 ngày 17/8/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 430 ngày 01/02/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 430-01 ngày 17/8/2020 để thu hồi nợ theo quy định.

Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông S, bà V để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH MTV H2 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi người phải thi hành án thi hành án xong khoản tiền nợ (5.000.000 đồng) nói trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV H2 phải chịu 73.069.260 đồng (Bảy mươi ba triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm sáu mươi đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm;

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K số tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 34.912.435 đồng (Ba mươi tư triệu, chín trăm mười hai nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0003578 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, Gia Lai.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh Gia Lai;

-VKSND huyện Kbang;

-Chi cục THADS huyện Kbang;

-Các đương sự;

-Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 15/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng giữa công ty HTS và NHNN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger