trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU ĐỨC

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM-ST

Ngày 12/4/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hải

Ông Trần Văn Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2023/TLST-KDTM ngày 30/5/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-KDTM ngày 07/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-KDTM ngày 27/3/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

    Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm X; Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà A, số I đường C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (và Ông Hoàng Anh T1; Ông Phạm Tuấn A; Bà Thái Thị Hồng H). (Văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020)

    Ông Đỗ Thành T uỷ quyền lại cho: Ông Trần Dương K - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà A, số I đường C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (và Ông Nguyễn Thành P). (Văn bản ủy quyền số 1919/2023/UQ-PGĐ ngày 10/4/2023) (Ông K có mặt)

    1. Bị đơn: Công ty TNHH T3

      Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn Q – Chức vụ: Giám đốc

      Địa chỉ: Ấp H, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Trần Dương K trình bày:

Ngày 12/11/2021, Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH T3 (gọi tắt là Công ty T3) ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản online không tài sản bảo đảm với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn cho vay 12 tháng, mục đích vay: phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn cho vay 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn là 15,5%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được giữ cố định trong suốt thời hạn duy trì hạn mức vay thấu chi. Ngày 12/11/2021 các thành viên Công ty gồm ông Lê Văn Q, bà Dương Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 đã họp và lập biên bản thống nhất trong việc vay vốn và thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa Ngân hàng và Công ty T3.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản tại Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với Công ty và các thành viên gồm ông Lê Văn Q, bà Dương Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 yêu cầu thanh toán nợ nhưng không có kết quả nên tiến hành khởi kiện yêu cầu:

  • Công ty T3 phải thanh toán trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/4/2024 là 402.382.076 đồng. Trong đó nợ gốc là 292.609.360 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả là 109.772.716 đồng.
  • Công ty T3 vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 13/4/2024 cho tới khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  • Trường hợp Công ty T3 không thanh toán theo yêu cầu nêu trên thì ông Lê Văn Q, bà Dương Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có trách nhiệm dùng tài sản cá nhân trong phạm vi vốn góp để thanh toán số nợ cho Ngân hàng.

[2] Đối với bị đơn Công ty TNHH T3:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cho bị đơn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn không hợp tác, không đến tòa để giao nộp ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

[3] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Đối với Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48; Thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại Điều 35, 39; Tư cách người tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 70, 71, 72; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát, đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Vụ án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

Đối với Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa; Nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là tự từ bỏ quyền nghĩa vụ của mình và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc buộc Công ty TNHH T3 phải thanh toán trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/4/2024 là 402.382.076 đồng (Trong đó nợ gốc 292.609.360 đồng, nợ lãi và lãi chậm trả là 109.772.716 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 13/4/2024 cho tới khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Nguyên đơn không còn yêu cầu buộc các thành viên Công ty T3 phải có trách nhiệm dùng tài sản cá nhân trong phạm vi vốn góp để thanh toán số nợ cho Ngân hàng nữa nên không xem xét. Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về tố tụng:

[1] Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và Hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng TMCP V với Công ty TNHH T3 đều có mục đích lợi nhuận, nay có phát sinh tranh chấp nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Bị đơn có trụ sở hoạt động tại xã C, huyện C nên căn cứ vào các Điều 30, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.

[2] Bị đơn Công ty TNHH T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Ngày 12/11/2021, Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH T3 (gọi tắt là Công ty T3) ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) bằng hình thức cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản, không cần tài sản bảo đảm. Số tài khoản nhận tiền là 249723991 đứng tên Công ty, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Lãi suất cho vay trong hạn là 15,5%/năm, lãi suất này được giữ cố định trong suốt thời hạn duy trì hạn mức vay thấu chi; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Sau khi các thành viên Công ty gồm ông Lê Văn Q, bà Dương Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 họp và lập biên bản thống nhất trong việc vay vốn và thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa Ngân hàng và Công ty T3 thì ngày 13/12/2021 Ngân hàng cấp hạn mức vay thông qua tài khoản đã định của Công ty T3 và tự động thanh toán hóa đơn số 0001832 và hóa đơn số 0001835 với tổng số tiền 292.609.360 đồng cho Công ty T3.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản tại Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã yêu cầu Công ty T4 nợ theo cam kết nhưng Công ty không thực hiện. Như vậy tính đến ngày 12/4/2024 Công ty còn nợ Ngân hàng tổng cộng 402.382.076 đồng (trong đó nợ gốc 292.609.360 đồng, nợ lãi 109.772.716 đồng) có bảng kê tính lãi và bảng tổng hợp dư nợ của Ngân hàng cung cấp tại phiên tòa. Như vậy, đến kỳ thanh toán phía Công ty không thanh toán tiền lãi và tiền gốc khi đến hạn là vi phạm Điều 7 của hợp đồng tín dụng đã ký kết. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không đến tòa để cung cấp chứng cứ về việc thanh toán tiền cho nguyên đơn. Căn cứ vào chứng cứ của nguyên đơn và lời khai nhận của phía Ngân hàng xác định hợp đồng mà bị đơn ký kết cũng như việc thanh toán nợ như nguyên đơn trình bày, đủ cơ sở xác định số tiền gốc bị đơn còn nợ Ngân hàng là 292.609.360 đồng.

[3.2] Về yêu cầu tính lãi suất thì thấy: Tại phiên tòa hôm nay đại diện Ngân hàng xác định phía Công ty còn nợ số tiền gốc vay. Tính đến ngày 12/4/2024 tổng tiền nợ lãi là 109.772.716 đồng (trong đó lãi nợ lãi 96.176.287 đồng, lãi chậm trả 13.596.429 đồng). Theo thỏa thuận thì tiền lãi suất trong hạn được tính theo lãi suất 15,5%/năm, lãi suất quá hạn là 150% của lãi trong hạn là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.3] Đối với yêu cầu các thành viên Công ty (ông Lê Văn Q, bà Dương Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1) phải có trách nhiệm dùng tài sản cá nhân trong phạm vi vốn góp để thanh toán số nợ cho Ngân hàng. Tại phiên tòa nguyên đơn không tiếp tục yêu cầu nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiệu lần triệu tập bị đơn, thông báo về việc giao nộp ý kiến, giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

[3.5] Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cần buộc bị đơn là Công ty T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc vay 292.609.360 đồng, tiền lãi tính đến ngày 12/4/2024 là 109.772.716 đồng, tổng cộng là 402.382.076 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo tính từ ngày 13/4/2024 theo Hợp đồng tín dụng trên đến khi trả hết nợ.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (4% x 2.382.076 đồng) = 20.095.283 đồng, hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 30, 35, 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91; Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với Công ty TNHH T3.

    Buộc Công ty T3 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 12/4/2024 là 402.382.076 đồng (Bốn trăm linh hai triệu ba trăm tám mươi hai nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng) gồm nợ gốc 292.609.360 đồng, nợ lãi 96.176.287 đồng, nợ lãi chậm trả 13.596.429 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 13/4/2024 theo mức lãi suất tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

    Trường hợp trong hợp đồng ký kết, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí KDTM sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH T3 phải nộp 20.095.283 đồng (Hai mươi triệu không trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm tám mươi ba đồng).

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.925.000 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008655 ngày 30/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

  3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người vắng mặt thì thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 12/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger