|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2024
V/v tranh chấp “Ly hôn,
Nuôi dưỡng con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Thanh
- 2. Ông Nguyễn Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bảo A - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm: 1980; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên . Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1979; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 18/12/1998, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị H về nhà anh làm dâu, chung sống cùng gia đình nhà chồng tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có quá nhiều khác biệt về quan điểm sống. Tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, cuộc sống hôn nhân ngày càng trở nên nặng nề, mệt mỏi. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007. Cháu H1 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007, chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M sau khi ly hôn. Hiện nay chị H đang làm việc tại Công ty TNHH D1 với mức lương trung bình khoảng 7.000.000đ/tháng, đủ khả năng để nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị H không đề nghị Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải.
Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: chị H đi làm công nhân xa nhà, ít khi trở về, không quan tâm chu đáo, thường xuyên đến gia đình, anh D chỉ ở nhà làm nông nghiệp. Tình cảm vợ chồng vì thế mà xa cách, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Hiện nay, anh D đi làm ăn xa nhà, không rõ thời điểm trở về.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên:
-Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Bị đơn chưa thực hiện đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
-Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007 cho chị Vũ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuỗi dưỡng đến khi cháu M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Vũ Thị H khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn D có đăng ký nhân khẩu thường trú tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do, vì vậy áp dụng Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh D là đúng quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn năm 1998, có đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 18/12/1998, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có quá nhiều khác biệt về quan điểm sống. Xác minh tại địa phương về mâu thuẫn gia đình cũng thể hiện, vợ chồng chị H anh D có mâu thuẫn là đúng. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị H anh D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp diễn nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: chị H và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyên vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M sau khi ly hôn. Hiện tại chị H có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Mặt khác cháu Nguyễn Văn M là con chung của chị H và anh D có văn bản trình bày nguyện vọng được tiếp tục ở chung với mẹ. Do vậy, yêu cầu của chị H đề nghị được giao trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007 là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.
Đối với cháu H1 đã đủ 18 tuổi nên chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đề nghị của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Chị H và anh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Vũ Thị H:
- - Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn M, sinh năm 2007 chị chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Đối với cháu Nguyễn Văn H1 đã đủ 18 tuổi nên chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001312 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 12/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi dưỡng con chung
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Nuôi dưỡng con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn