Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/01/2024

V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy, bà Ngô Thị Thời.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 736/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2023/QÐST-HNGĐ ngày 18/12/2023, Thông báo hoãn phiên tòa ngày 03/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tống Thị Thúy H, sinh năm 1978; ĐKHKTT: Số A Hồ X, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Hiện cư trú tại: Số C Cầu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; ĐKHKTT và hiện cư trú: Số A Hồ X, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H1 – Luật sư văn phòng L – Đoàn luật sư tỉnh H.

Chị H, anh T, ông H1 đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị của nguyên đơn chị Tống Thị Thúy H và ông Nguyễn Thanh H1 (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H), thể hiện: Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Văn T được tự do tìm hiểu một thời gian thì cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là phường N) thành phố H ngày 18/6/1998. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T hay uống rượu về nhà chửi bới chị và mọi người xung quanh, chị có khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Trước đây chị H đã làm đơn xin ly hôn anh T nhưng sau đó anh T tha thiết xin đoàn tụ, chị nghĩ anh T sẽ thay đổi được và cũng vì nghĩ đến con nên đã rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình trạng vợ chồng cũng không cải thiện được. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để hai bên sớm ổn định cuộc sống; Vợ chồng chị H, anh T có 02 con chung là: Nguyễn Thị Thùy M, sinh ngày 21/12/1998 và Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 07/01/2002. Các cháu đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có nợ chung và công sức đóng góp với gia đình hai bên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H và ông H1 xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Về điều kiện kết hôn thống nhất như phần trình bày của chị H. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 23 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vấn đề kinh tế gia đình vì gần đây anh không đi làm được, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm. Chị H đã bỏ ra ngoài không chung sống cùng anh và không quan tâm hỏi han gì anh. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng với chị H vẫn còn và anh mong muốn chị H suy nghĩ lại để quay về chung sống cùng anh. Bản thân anh muốn níu kéo vì muốn các con có đầy đủ cả bố cả mẹ để các con không tủi thân. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn anh cũng chấp nhận. Vợ chồng có hai con chung thống nhất như phần trình bày của chị H, các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai người thân gia đình anh T, chị H, thể hiện: Chị H, anh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và vấn đề kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra va chạm. Chị H đã ra ngoài ở không ở cùng anh T nữa. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần cho anh chị nhưng vẫn không khắc phục được. Nay chị H xin ly hôn đề nghị hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, trường hợp chị H kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Tống Thị Thúy H ly hôn anh Nguyễn Văn T; Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Tuấn đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố H. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn là anh T vẫn vắng mặt. Chị H, ông H1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh T, ông H1 là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân của chị H, anh T là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống và vấn đề kinh tế gia đình, vợ chồng không còn thương yêu nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T. Lời khai người thân gia đình chị H, anh T thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Năm 2017, chị H đã làm thủ tục ly hôn anh T sau đó lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không cải thiện được. Mâu thuẫn của anh, chị đã được gia đình hòa giải nhưng vẫn không khắc phục được. Anh T1 mong muốn vợ chồng đoàn tụ để các con có cả bố cả mẹ. Tuy nhiên chị H kiên quyết xin ly hôn, anh T1 lại không đưa ra được giải pháp để cải thiện tình trạng vợ chồng. Tòa án tổ chức phiên tòa nhưng anh T1 cũng không đến thể hiện anh T1 không thực sự thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy chị H, anh T1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H ly hôn anh T1 là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy M, sinh ngày 21/12/1998 và cháu Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 07/01/2002, các con đã trưởng thành nên chị H, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị H xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tống Thị Thúy H.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tống Thị Thúy H ly hôn anh Nguyễn Văn T.

- Về án phí: Buộc chị Tống Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0000694 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Chị Tống Thị Thúy H và anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP. Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Ngọc Châu để lưu hộ tịch (ĐKKH: 18/6/1998);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 12/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Thị Thúy H - Nguyễn Văn T tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger