|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 11/01/2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Thanh Tùng
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 11/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 225/2023/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07/12/2023 giữa các đương sự;
- - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Anh T, sinh năm 1989. Địa chỉ: (Nhà không số), ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- - Bị đơn: Anh Trương Tấn Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: (Nhà không số), ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/8/2023 (BL02) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Anh T trình bày: Vào năm 2021, chị T kết hôn cùng anh Trương Tấn Đ, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/07/2023. Trong thời gian sống chung, vợ chồng không có con chung. Từ lúc cưới nhau thì vợ chồng chị T sống tại nhà riêng ở ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cho đến hôm nay, những năm tháng đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến cuối năm 2022 thì vợ chồng không còn hạnh phúc, anh Đ vô trách nhiệm với gia đình, tuy sống chung một nhà nhưng tình cảm không còn, cả hai không thể hàn gắn tình cảm được nữa. Nay nhận thấy hai vợ chồng tình cảm đã không còn, hạnh phúc hôn nhân tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Trương Tấn Đ. Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời anh Đ cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh Đ, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh Đ theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Anh T, nhận thấy chị T và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/7/2023. Quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng ý kiến thường xảy ra mâu thuẫn với nhau. Chị T nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ nên có nguyện vọng ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh Đ.
[4] Về con chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị T khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Anh T đối với bị đơn anh Trương Tấn Đ.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Anh T được ly hôn với anh Trương Tấn Đ.
- - Về con chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung: Chị T khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Bùi Thị Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0008604, ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Anh Trương Tấn Đ không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Chiêu Hùng |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
