Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11 - 01 - 2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và Ông Lại Văn Bảo;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2023/ TLST – HNGĐ ngày 04/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 08/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lại Cẩm L, sinh năm: 1999; đăng ký thường trú tại: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: anh Trần Công H, sinh năm: 1995; đăng ký thường trú và chỗ ở tại: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 27/9/2023, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lại Cẩm L đều trình bày: chị và anh Trần Công H kết hôn vào năm 2020 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian hiểu nhau khoảng 01 năm, sau khi kết hôn vợ chồng chị về sống cùng gia đình nhà chồng tại tổ F, khu D, phường C, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng chị sau kết hôn chỉ hạnh phúc được 01 năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H chơi bời, cờ bạc nên anh chị thường xuyên cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau không còn tìm được tiếng nói chung, chị thương con còn nhỏ nên cũng cố gắng chịu đựng nhưng anh H không thay đổi. Cho đến đầu năm 2023 anh chị gần như không nói chuyện với nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn nên anh H đã bỏ nhà đi để chị và con ở nhà mà không quan tâm, lo lắng, một mình chị phải đi làm để nuôi con. Gia đình hai bên cũng hòa giải cho anh chị nhiều lần nhưng không đạt kết quả, anh H vẫn không tu chí làm ăn, vẫn viện cớ đi làm để đi qua đêm, chơi bời cờ bạc nên chị quyết định sống ly thân với anh H, chị và con đi ra ngoài thuê nhà ở không quan tâm đến cuộc sống của anh H nữa, cho đến khi chị làm đơn khởi kiện thì cả hai đều không tìm biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn. Đến nay tình cảm của chị dành cho anh H không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.

+ Về con chung: chị và anh Trần Công H có 01 con chung là Trần Thanh H1, sinh ngày 02/10/2020. Quan điểm của chị khi vợ chồng ly hôn, vì con chung còn nhỏ, bản thân anh H cũng không quan tâm, không có trách nhiệm với con nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con. Hiện chị làm ở quán tóc, gội đầu thu nhập bình quân cũng được từ 6 đến 8 triệu đồng/tháng cũng đảm bảo nuôi dưỡng con chung nên chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con.

+ Về tài sản chung: từ sau khi kết hôn hai vợ chồng chị ở cùng với gia đình nhà chồng nên không có tài sản gì có giá trị, chị không yêu cầu chia. Công nợ chung không có.

* Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Trần Công H không đến Tòa án tham gia tố tụng nên không có quan điểm gì về việc ly hôn, nuôi con, tài sản và công nợ chung.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Trần Thị Thanh H2 – người làm chứng và là mẹ đẻ của anh Trần Công H, bà H2 có quan điểm cụ thể như sau: chị L và anh H kết hôn từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, việc kết hôn do gia đình hai bên hoàn toàn ủng hộ, không cản trở hay cấm đoán gì, sau kết hôn thì về sống với bố mẹ chồng. Thời gian đầu mới kết hôn chị L, anh H không có mâu thuẫn gì đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do lỗi của con trai bà, có chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần, tuy nhiên chị L cũng chưa làm tròn trách nhiệm của người con dâu trong gia đình, chồng có lỗi nhưng không viết vun vén, bảo ban chia sẻ để vượt qua khó khăn. Vì cả hai bên có lỗi nên dẫn đến mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị L đã ra khỏi nhà, thuê nhà trọ để ở bên ngoài còn anh H vẫn ở cùng với vợ chồng bà. Bà cũng đã khuyên bảo các con nhưng cả hai đều không hàn gắn để quay lại bà cũng động viên anh H nếu quyết định ly hôn thì thực hiện thủ tục ly hôn để cả hai còn sớm ổn định cuộc sống nhưng vì lý do nào đó anh H không muốn đến Tòa án. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng bà hoặc chồng bà đều nhận hộ, giao hoặc thông báo lại vì anh H đi làm.

+ Về con chung: chị L và anh H có 01 con chung đúng như chị L đã trình bày, từ khi chị L và anh H sống ly thân đến nay thì con chung ở cùng với chị L ở nhà trọ, khi Tòa án giải quyết cho chị L và anh H ly hôn về con chung bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Về tài sản chung: chị L và anh H ở cùng với ông bà nên không có tài sản chung còn công nợ chung bà không nắm được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lại Cẩm L, chị L được ly hôn với anh Trần Công H; về con chung: giao con chung cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng cho con chung; tài sản và công nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lại Cẩm L yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Công H hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Lại Cẩm L và anh Trần Công H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C vào năm 2020. Sau kết hôn, anh chị về sống cùng gia đình nhà nội ở tổ F, khu D, phường C, thành phố C. Quá trình chung sống anh chị chỉ hạnh phúc được một năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày là do anh H không có trách nhiệm với gia đình, chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần, chị L có khuyên bảo nhiều lần anh H không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau, tình trạng này kéo dài nên không khí gia đình trở lên căng thẳng. Từ năm 2023 anh chị quyết định sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, không tìm biện pháp gì hàn gắn mâu thuẫn, gia đình cũng hòa giải cho vợ chồng anh chị nhưng không đạt kết quả. Tại phiên tòa chị L vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với anh H, chị khẳng định mâu thuẫn của anh chị không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn. Lời khai của chị L về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cơ bản phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú và lời khai của bà Trần Thị Thanh H2 – là mẹ đẻ của anh Trần Công H do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn của chị L và anh H đã trầm trọng, kéo dài từ cuối năm 2022 đến nay và đã sống ly thân nhau, gia đình hai bên cũng đã hòa giải nhưng không tìm được biện pháp hàn gắn nên chị L xin ly hôn anh H là có cơ sở.

Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H.

* Về con chung: chị Lại Cẩm L và anh Trần Công H có 01 con chung là Trần Thanh H1, sinh ngày 02/10/2020, vì con chung còn nhỏ, từ khi sống ly thân con chung của anh chị cũng đã được chị L nuôi dưỡng, khi ly hôn chị L cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con chung. Mẹ đẻ của anh H cũng đề nghị Tòa án giải quyết phần con chung theo quy định của pháp luật, đại diện khu phố nơi anh chị cư trú cũng có quan điểm “.......với độ tuổi của cháu bé và hoàn cảnh của anh H như vậy thì khu phố thấy rằng nên giao đứa bé cho chị Lại Cẩm L là mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là tốt nhất....”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh H không chấp hành pháp luật, không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn, quan điểm của chị L cũng phù hợp với quan điểm của đại diện khu phố, chị L cũng có thu nhập ổn định nên đảm bảo được việc nuôi dưỡng con chung phát triển tốt. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao con chung Trần Thanh H1 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp và cũng đảm bảo được các điều kiện cho sự phát triển cho con chung của anh chị. Do chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét; anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

* Về tài sản và công nợ chung: không có.

[3] Về án phí: chị Lại Cẩm L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lại Cẩm L và anh Trần Công H.
  2. Về con chung: giao con chung là Trần Thanh H1, sinh ngày 02/10/2020 cho chị Lại Cẩm L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Công H không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: chị Lại Cẩm L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp ngày 02/10/2023 theo biên lai số: 0005429 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho biết: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - UBND phường Cẩm Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA – VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)




Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lại Cẩm Linh và anh Trần Công Hoàn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger