Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM-PT
Ngày: 11/01/2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:

Ông Nguyễn Trung Kiên

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hương

Ông Nguyễn Duy Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2023/KDTM-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH P1.

    Địa chỉ: Lô B Khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng N - Giám đốc,(Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng P – Phó Giám đốc. Có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty TNHH T2.

    Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh T - Giám đốc (Theo Văn bản ủy quyền ngày 07/12/2023). (Có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên, (Vắng mặt).

  4. Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/01/2021, Công ty TNHH P1 (viết tắt là Công ty P1) ký hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 với Công ty TNHH T2 (viết tắt là Công ty T2). Theo hợp đồng, Công ty P2 ý bán cho Công ty K vải bạt nhựa các loại; số lượng tính theo nhu cầu sử dụng của Công ty T2; đơn giá theo sự thỏa thuận của hai bên trong từng đơn đặt hàng; thời hạn thanh toán trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận đủ hàng và hóa đơn GTGT; hình thức thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng.

Sau khi ký hợp đồng, trong thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 7/2021, Công ty T2 thanh toán đúng hạn theo hợp đồng đã ký; từ tháng 8/2021 đến tháng 9/2021 thì Công ty T2 lấy 2 lô hàng trị giá 166.155.000đ nhưng không thanh toán đúng theo hợp đồng. Từ tháng 12/2021, Công ty P1 đã rất nhiều lần yêu cầu Công ty T2 thanh toán công nợ nhưng Công ty Khánh D không hợp tác. Do vậy, Công ty P1 khởi kiện yêu cầu Công ty T2 phải trả số tiền còn thiếu (nợ gốc) là 166.155.000 đồng và phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ 14/09/2021 tới nay 17/09/2022 theo lãi suất quá hạn do Ngân hàng Đ quy định với số tiền lãi là 24.923.000đ. Tổng là 191.078.000đ.

Đại diện theo pháp luật của bị đơn - ông Nguyễn Mạnh T trình bày: Ngày 20/9/2022, ông Trần Ngọc T1 - Giám đốc Công ty T2 đã có hợp đồng chuyển nhượng 100% phần vốn góp của Công ty T2 cho ông, việc chuyển nhượng vốn góp đã được thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc trước đây Công ty T2 nợ tiền của Công ty P1 thế nào ông không biết vì trong hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp không thể hiện nội dung các khoản nợ của Công ty T2, Công ty cũng không bàn giao tài sản cũng như các khoản nợ cho ông. Do vậy, ông không có trách nhiệm đối với các khoản nợ trước đó của Công ty T2.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi đã quyết định:

Căn cứ: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật thương mại năm 2005; Điều 87, 117, 430, 431, 433, 434, 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P1.

  2. Buộc Công ty T2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH P1 số tiền nợ gốc 166.155.000đ và tiền lãi 36.429.476đ, tổng là: 202.584.476đ.

Kể từ ngày 06 tháng 9 năm 2023, Công ty T2 tiếp tục phải trả lãi 09%/năm/nợ gốc cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho Công ty TNHH P1.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17 tháng 9 năm 2023, bị đơn Công ty TNHH T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với các lý do: Việc ký kết hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 ngày 01/01/2021 giữa Công ty P1 và Công ty T2 là không hợp pháp mà chỉ là hợp đồng cá nhân giữa ông Trần Ngọc T1 với Công ty P1 vì thời điểm ký hợp đồng trên ông Trần Ngọc T1 chưa được ông Vũ Công Q chuyển nhượng phần vốn góp và chuyển giao công ty, do đó Công ty T2 không phải có nghĩa vụ thanh toán trả Công ty P1 số tiền nợ gốc 166.155.000đ, tiền lãi 36.429.476đ, tổng là 202.584.467đ; việc Tòa án nhân dân huyện Ân Thi thụ lý, giải quyết bằng một bản án khi giữa ông Trần Ngọc T1 và Công ty P1 chưa thực hiện hòa giải là trái với thỏa thuận theo hợp đồng số 36/PĐ-KD/2021 ngày 01/01/2021; khi ký hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty T2, hai bên không thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ để người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Mạnh T thực hiện nghĩa vụ thay ông Trần Ngọc T1; bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi chỉ áp dụng Điều 87 Bộ luật dân sự là chung chung, không rõ ràng, triệt để. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm để giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ do pháp luật tố tụng quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên về mức lãi suất Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất là 9%/ năm là chưa chính xác, phải căn cứ mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng A, V và V1 tại thời điểm thanh toán (thời điểm chuẩn bị xét xử sơ thẩm ngày 05/9/2023). Về thời điểm tính lãi và nghĩa vụ thi hành án Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là chưa chính xác. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật dân sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Sửa một phần Bản án sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nghe quan điểm trình bày của các bên đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có đơn kháng cáo trong thời hạn, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định, do đó đơn kháng cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc T1. Xét thấy, sự vắng mặt của ông T1 không ảnh hưởng đến việc giải quyết kháng cáo. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T1.

[2]. Về kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH T2, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 01/01/2021, Công ty P1 và Công ty T2 ký kết hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 có nội dung: Công ty P1 bán cho Công ty T2 sản phẩm vải bạt nhựa các loại với số lượng và đơn giá theo thỏa thuận và từng lần đặt hàng cụ thể.

Quá trình thực hiện hợp đồng, thì từ tháng 01/2021 đến tháng 7/2021, Công ty T2 đã thanh toán đúng hạn theo hợp đồng nhưng từ tháng 8/2021 đến tháng 9/2021, Công ty T2 đã mua hai lô hàng nhưng không thanh toán, cụ thể:

  • Theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000360 ngày 04/9/2021, Công ty P1 đã cung cấp cho Công ty T2 2.008 kg vải bạt nhựa, đơn giá 38.000 đồng, thành tiền 76.304.000 đồng và 10% thuế suất GTGT là 7.630.400 đồng, tổng là 83.934.400 đồng.

  • Theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000378 ngày 13/9/2021, Công ty P1 đã cung cấp cho Công ty T2 1.967 kg vải bạt nhựa, đơn giá 38.000 đồng, thành tiền 74.746.000 đồng và 10% thuế suất GTGT là 7.474.600 đồng, tổng là 82.220.600 đồng.

Ngày 27/11/2021, Công ty P1 và Công ty T2 đã lập biên bản đối chiếu và xác nhận nợ trong đó số tiền Công ty P1 còn nợ Công ty T2 là 166.155.000 đồng.

Theo đại diện của bị đơn cho rằng hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 ngày 01/01/2021 giữa Công ty P1 và Công ty T2 là không hợp pháp mà chỉ là hợp đồng cá nhân giữa ông Trần Ngọc T1 với Công ty P1 vì thời điểm ký hợp đồng trên ông Trần Ngọc T1 chưa được ông Vũ Công Q chuyển nhượng phần vốn góp và chuyển giao công ty nên Công ty T2 không phải có nghĩa vụ thanh toán trả Công ty P1 khoản nợ do ông T1 xác lập.

Về hình thức, mục đích và nội dung Hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021:

Không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tại thời điểm giao kết hợp đồng ngày 01/01/2021, mặc dù theo Điều lệ của Công ty T2 thì ông Vũ Công Q là đại diện theo pháp luật của Công ty T2 nhưng người ký hợp đồng lại là ông Trần Ngọc T1. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng, ông Trần Ngọc T1 sử dụng dấu pháp nhân Công ty T2 và chức danh Giám đốc. Hơn nữa, ngày 15/3/2021 ông Trần Ngọc T1 nhận chuyển nhượng phần vốn góp của ông Vũ Công Q, sau đó là người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 và tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 đến tháng 9/2021 nhân danh pháp nhân Công ty T2. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Theo quy định khoản 1 Điều 87 của Bộ luật dân sự thì Công ty T2 phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ do người đại diện là ông Trần Ngọc T1 xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân là Công ty T2 trước đó. Bản án sơ đã tuyên buộc Công ty T2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty P1 số tiền nợ gốc 166.155.000 đồng là có căn cứ.

Về số tiền lãi chậm thanh toán:

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm thanh toán trên số nợ gốc 166.155.000 đồng là có căn cứ, nhưng việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất chậm thanh toán là 9%/năm theo Quyết định số 2868/2010/QĐ-NHNN ngày 29/10/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1 là chưa đúng. Bởi vì, trong Hợp đồng nguyên tắc số 36/PĐ-KD/2021 các bên không thỏa thuận về mức lãi chậm trả nên lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, theo đó mức lãi suất chậm thanh toán trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc có tranh chấp thì Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N2, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N3,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả. Qúa trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành xác minh lãi suất nợ quá hạn của 03 ngân hàng tại địa phương tại thời điểm tháng 9/2023, cụ thể: Lãi xuất nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP N2 là 13,5%/năm, Lãi xuất nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP C là 13,5%/năm và Ngân hàng N3 là 9,75%/năm. Như vậy xác định được mức lãi suất nợ quá hạn của 03 ngân hàng trung bình tại thời điểm tháng 9/2023 là 12,25%/năm. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất chậm thanh toán 9%/năm là thiệt hại cho nguyên đơn, tuy nhiên do sau xét xử sơ thẩm nguyên đơn không có kháng cáo, quyết định của Bản án sơ thẩm về lãi suất chậm thanh toán là có lợi cho bị đơn, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về ý kiến của bị đơn cho rằng việc Tòa án nhân dân huyện Ân Thi thụ lý, giải quyết bằng một Bản án khi giữa ông Trần Ngọc T1 và Công ty P1 chưa thực hiện hòa giải là trái với thỏa thuận theo Hợp đồng số 36/PĐ-KD/2021 ngày 01/01/2021, xét thấy: Tại Điều 5 của Hợp đồng 36/PĐ-KD/2021 hai bên đã thỏa thuận: “Mọi yêu cầu tranh chấp sẽ được giải quyết giữa hai bên thông qua hòa giải; nếu không tự giải quyết được sẽ nhờ tới sự can thiệp của Tòa án kinh tế tỉnh Phú Thọ giải quyết...”. Theo thỏa thuận của các bên thì nếu xảy ra tranh chấp sẽ được giải quyết thông qua hòa giải. Tuy nhiên, trên thực tế sau khi Công ty T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Công ty P1 đã nhiều lần gửi công văn, gửi email cho Công ty T2 yêu cầu thanh toán nợ nhưng Công ty T2 không thực hiện. Do đó, Công ty P1 đã khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu giải quyết là có căn cứ. Đối với việc thỏa thuận giữa công ty T2 và Công ty P1 về Tòa án giải quyết tranh chấp là Tòa kinh tế tỉnh Phú Thọ đây là thỏa thuận trái quy định của pháp luật nên thỏa thuận này vô hiệu. Việc Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.

[3]. Về các nội dung khác của Bản án sơ thẩm:

- Về thời điểm tính lãi: Tòa án cấp sơ thẩm đã có sai sót, cụ thể là: Theo thỏa thuận tại Điều 2 Hợp đồng nguyên tắc số 36 thì thời hạn thanh toán là 15 ngày kể từ khi nhận hàng, hình thức thanh toán là chuyển khoản qua ngân hàng.

Số tiền nợ gốc 166.155.000 đồng là giá trị 02 lô hàng thể hiện trên 02 hóa đơn giá trị gia tăng gồm: Lô hàng giao nhận hàng ngày 04/9/2021, trị giá 83.934.400 đồng và L hàng giao nhận hàng ngày 13/9/2021, trị giá 82.220.600 đồng. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ thời điểm ngày 14/9/2021 là không có căn cứ. Tòa cấp sơ thẩm tính lãi kể từ ngày 29/3/2021 là không chính xác. Do vậy HĐXX xét thấy cần sửa lại thời điểm bắt đầu tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm được tính như sau:

Đối với khoản nợ 83.934.400 đồng: Thời điểm nhận hàng là ngày 04/9/2021, thời hạn thanh toán cuối cùng là ngày 19/9/2021. Thời gian tính lãi bắt đầu từ ngày 20/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/9/2023 là 714 ngày (từ 20/9/2021 đến 20/9/2022 = 365 ngày; từ 21/9/2022 đến 05/9/2023 = 349 ngày. Tổng = 714 ngày). Lãi suất chậm thanh toán = 83.934.400 đồng x 9%/365 ngày x 714 ngày = 14.777.053 đồng. (1)

Đối với khoản nợ 82.220.600 đồng: Thời điểm nhận hàng là ngày 13/9/2021, thời hạn thanh toán cuối cùng là ngày 28/9/2021. Thời gian tính lãi bắt đầu từ ngày 29/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/9/2023 là 705 ngày (từ 29/9/2021 đến 29/9/2022 = 365 ngày; từ 30/9/2022 đến 05/9/2023 = 340 ngày. Tổng = 705 ngày). Lãi suất chậm thanh toán = 82.220.600 đồng x 9%/365 ngày x 705 ngày = 14.292.868 đồng (2).

Tổng lãi suất chậm thanh toán = (1) + (2) = 14.777.053 đồng + 14.292.868 đồng = 29.069.921 đồng. Làm tròn là 29.070.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi chậm thanh toán đến ngày xét xử sơ thẩm 05/9/2023 là: 166.155.000 đồng + 29.070.000 đồng = 195.225.000 đồng.

- Về nghĩa vụ thi hành án:

Tại quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên: “Kể từ ngày 06 tháng 9 năm 2023, Công ty T2 tiếp tục phải trả lãi 09%/năm/nợ gốc cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho Công ty TNHH P1” là không đúng. Xét thấy cần sửa lại theo đúng quy định, như sau:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty P1 (đối với các khoản tiền phải trả cho Công ty P1) cho đến khi thi hành án xong, Công ty T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do vậy, Hội đồng xét xử sửa lại phần này của Bản án sơ thẩm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên là có căn cứ.

[4]. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Công ty P1.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do sửa một phần Bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; khoản 1 Điều 87, Điều 117, Điều 430, Điều 431, Điều 433, Điều 434, Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH T2; Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 05/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P1.

    Buộc Công ty TNHH T2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH P1 số tiền nợ gốc 166.155.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 29.070.000 đồng, tổng là: 195.225.000 (Một trăm chín mươi năm triệu, hai trăm hai năm nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty P1 (đối với các khoản tiền phải trả cho Công ty P1) cho đến khi thi hành án xong, Công ty T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí:

    Án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm với số tiền là 9.761.250 (Chín triệu, bảy trăm sáu mốt nghìn, hai trăm năm mươi) đồng.

    Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH T2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Công ty TNHH T2 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003351 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Ân Thi;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger