Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Đức Hoàn
  2. Bà Lê Thị Ngọc

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:47/2023/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trung K

  • - Sinh ngày 30/8/1989 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 8/12; Con ông: Trần Huy B (Đã chết) và bà Lê Thị T; sinh năm 1967; Bị cáo không có vợ, Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án;Tiền sự: không;
  • - Nhân thân: Ngày 11/8/2017 và ngày 27/01/2018 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2023 cho đến nay. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bị hại: Bà Lê Thị T - Sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  • + Chị Phạm Thị N1 - Sinh năm 1995 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Bà Vi Thị T1 - Sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Làng C, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, Trần Trung K, trú tại thôn M, xã M, huyện N, sau khi đi uống rượu, bia đã đến quán R, ở khu phố L, thị trấn N, huyện N để hỏi bà Lê Thị T (mẹ đẻ K) mượn xe ô tô biển kiểm soát 36A-213.94 để đi chơi, nhưng do K chưa có giấy phép lái xe và đang trong tình trạng say rượu nên bà T không cho mượn. K bực tức nói “Mẹ không đưa chứ gì, không đưa thì tôi phá”, đồng thời K cầm các cốc uống bia bằng thủy tinh của quán liên tục ném vào chiếc xe, làm chiếc xe ô tô bị hư hỏng một số bộ phận, các chiếc cốc uống bia bị vỡ nát.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của các bộ phận, phụ tùng hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 36A-213.94 là 6.700.000₫.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại của 21 cốc thủy tinh loại cốc vại uống bia, màu xanh dương là: 201.300 đồng

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A-213.94 và một số giấy tờ xe, sau khi định giá tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng và các mảnh vỡ của cốc thủy tinh đã trả lại cho gia đình bà T xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS - NL ngày 19/12/2023 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Trung K về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Trần Trung K từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý, không ai có ý kiến gì nên đề nghị không xem xét.
  • Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Bị cáo thống nhất với toàn bộ nội dung đã thể hiện trong đơn xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội không có ý kiến gì trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử do bị cáo bị bệnh và chuyển biến xấu nên không thể đến tham gia xét xử tại phiên tòa được, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung vụ án mà không có ý kiến gì đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét yêu cầu của bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 290 của bộ luật tố tụng Hình Sự tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, Trần Trung K đã thực hiện hành vi dùng các cốc uống bia bằng thủy tinh ném vào chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A-213.94 của bà Lê Thị T bị hư hỏng một số bộ phận của xe và một số tài sản (cốc uống bia bằng thủy tinh), tổng giá trị thiệt hại là 6.901.300 đồng, cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Đây là vụ án cố ý làm hư hỏng sản có tính chất ít nghiêm trọng do Trần Trung K cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, dù biết việc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng nừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo được người bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 11/8/2017 và ngày 27/01/2018 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy”.

Với nhân thân và các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong quá trình điều tra nên HĐXX không xem xét.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo hiện đang bị bệnh không đi lại được Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Trung K.

  • - Tuyên bố: Trần Trung K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • - Xử phạt: Trần Trung K 09 (Chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Trung K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị cáo có mặt người bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc

Phạm Đức Hoàn

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản, bị cáo Trân Trung K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger