TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 01 /2024/KDTM-ST Ngày 10/5/2024. V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa.
Bà Đào Thị Minh Nguyệt.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lương Ngọc Thắng, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Út, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 18/2023/TLST- KDTM ngày 25/10/2023 vÒ viÖc Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST- KDTM ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST- KDTM ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1). Địa chỉ trụ sở: Số H L, Phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý theo văn bản ủy quyền số 58/2023/UQ – CTQT ngày 12/07/2023 của Chủ tịch Hội đồng quản trị V1. Người đại diện theo ủy quyền trong vụ án ông Ma Quang M, ông Đỗ Tiến D1, ông Đỗ Ngọc L, bà Nguyễn Thị T. Ông D1, ông L có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Công ty TNHH X; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến L1 – Chức vụ: Giám đốc- Sinh ngày: 26/11/1984; Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện tại: Số B, Ngõ A, Phố L, Thị xã S, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tiến L1, Sinh ngày: 26/11/1984; Bà Phạm Thị Thúy H, sinh ngày: 01/02/1983 (vợ ông L1); Đều đăng ký thường trú và chỗ ở hiện tại: Số B, Ngõ A, Phố L, Thị xã S, thành phố Hà Nội.
Ông L1, bà H đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V trình bày:
Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH X, Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến L1 có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các văn bản tín dụng kèm theo, vay vốn của V1 với tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng ). Cụ thể như sau: Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động trong kinh doanh nhằm phục vụ mục đích nhập vật liệu xây dựng, thi công công trình và ứng trước cho những công trình còn dang dở và các hoạt động liên quan tới việc hoàn thiện công trình xây dựng theo ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp. Lãi suất cho vay trong hạn: tại thời điểm ký hợp đồng này là: 18%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo cho khoản vay trên thì có hợp đồng bảo lãnh sau: Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022, bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H đã đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty X trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của Công ty X với V1 phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty X và V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ tính đến ngày 10/5/2024, Công ty X còn nợ V1 số tiền như sau: Nợ gốc: 432,818,969 đồng; Nợ lãi: 131,252,066 đồng; Tổng cộng: 564,071,035 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng).
Ngân hàng TMCP Vank) yêu cầu Tòa án buộc Công ty X phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên.
Tính đến ngày 10/5/2024, Công ty X còn nợ V1 số tiền như sau: Nợ gốc: 432,818,969 đồng; Nợ lãi: 131,252,066 đồng; Tổng cộng: 564,071,035 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng).
Trong trường hợp Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho V1, thì ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty X toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ nêu trên.
Trong trường hợp Công ty X, ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho V1, ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty X và của ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H để thu hồi khoản nợ vay, theo Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022.
Công ty X tiếp tục phải chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng tín dụng số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, kể từ ngày 11/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Qu, tr×nh gi¶i quyÕt vôn Toµn ®· tiÕn hµnh giao các thông báo thụ lý, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, các quyết định, triệu tập Công ty X và ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H, để giải quyết vụ án. Ông L1, bà H đã ký nhận các văn bản, nhưng ông L1, bà H không đến, không trình bày ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương và có biên bản làm việc với Công ty X, ông L1, bà H. Vì vậy tòa án tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
- Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự:
Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về viÖc gi¶i quyÕt vôn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Vank), buộc Công ty TNHH X phải trả cho Ngân hàng TMCP V (V1) phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP V, tính đến ngày 10/5/2024, Công ty X còn nợ V1 số tiền như sau: Nợ gốc: 432,818,969 đồng; Nợ lãi: 131,252,066 đồng; Tổng cộng: 564,071,035 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng).
Công ty TNHH X tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các văn bản tín dụng kèm theo của hợp đồng, kể từ ngày 11/5/2024 đến ngày trả hết khoản nợ.
Trong trường hợp Công ty X, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP V, Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H để thu hồi khoản nợ vay, theo Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022. Ông L1, bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà;
- [1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về kinh doanh thương mại ” theo quy định tại khoản 1 điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- [2] Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V yêu cầu Công ty TNHH X thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Nhận thấy ngày 30/03/2022 Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH X, Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến L1 có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC, và các văn bản tín dụng kèm theo, vay vốn của V1 với tổng số tiền là 500.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng đã được người đại diện hợp pháp của ngân hàng và trực tiếp ông Nguyễn Tiến L1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X ký. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực, buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, Công ty TNHH X trực tiếp là ông Nguyễn Tiến L1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Việc Công ty TNHH X thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận. Do vậy, việc ngân hàng V đã khởi kiện yêu cầu việc Công ty TNHH X phải thanh toán toàn bộ khoản nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng Việc Công ty TNHH X mới chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc là 67.140.431đồng như vậy đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty TNHH X thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ tính đến ngày 10/5/2024, Công ty X còn nợ V1 số tiền như sau: Nợ gốc: 432,818,969 đồng; Nợ lãi: 131,252,066 đồng; Tổng cộng: 564,071,035 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng), và tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các văn bản tín dụng kèm theo của hợp đồng là có cơ sở và phù hợp với Hợp đồng tín dụng các bên đã ký, cũng như phù hợp với các quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- [3] Về biện pháp bảo đảm cho khoản vay của Công ty TNHH X.
Ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H đã ký Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022, bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng TMCP V, bên được bảo lãnh đối với khoản vay của ngân hàng là Công ty TNHH X. Hợp đồng bảo lãnh có phạm vi bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H, đã đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty X trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của Công ty X với V1 phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty X và Ngân hàng V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TNHH X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng V1 đã yêu cầu ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H phải thực hiện đúng hợp đồng bảo lãnh nhưng ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H không thực hiện.
Xét thấy hợp đồng bảo lãnh giữa ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H và Ngân hàng TMCP V được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận bảo lãnh với bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H là sự tự nguyện. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích được thực hiện quyền nghĩa vụ của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Công ty TNHH X đến hạn trả nợ đã không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các văn bản tín dụng kèm theo. Vì vậy ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H phải thực hiện đúng hợp đồng bảo lãnh đã ký kết, để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP V.
- [4] Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- -Áp dụng Điều 275, 280, 297, 319, 385, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- -Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm b Khoản 1 Điều 39; các Điều 5, 40, 70, 91, 227, 228, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- -Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP V (V1).
Buộc với Công ty TNHH X phải trả cho Ngân hàng TMCP V (V1) tổng số tiền tính đến ngày 10/5/2024 là: Nợ gốc: 432,818,969 đồng; Nợ lãi: 131,252,066 đồng; Tổng cộng: 564,071,035 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng).
Buộc Công ty TNHH X tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: 290322-7925741-01-SME/TC ngày 30/03/2022, và các văn bản tín dụng kèm theo của hợp đồng, kể từ ngày 11/5/2024 đến ngày trả hết khoản nợ.
Nếu Công ty TNHH X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án hoặc tổ chức có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H, theo đúng Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022, bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng TMCP V, bên được bảo lãnh đối với khoản vay của ngân hàng là Công ty TNHH X.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, phát mại tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH X đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Bảo lãnh chấm dứt khi bên được bảo lãnh, là Công ty TNHH X thực tế thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ và hoàn thành toàn bộ các nghĩa vụ của Công ty TNHH X đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V và Hợp đồng bảo lãnh chấm dứt căn cứ theo Hợp đồng bảo lãnh số: 01/HĐBL ngày 30/03/2022, Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL ngày 30/03/2022, bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tiến L1 và bà Phạm Thị Thúy H bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng TMCP V, bên được bảo lãnh đối với khoản vay của ngân hàng là Công ty TNHH X.
Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.562.841 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm bốn mươi mốt đồng). Hoàn trả ngân hàng V tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.373.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng số: 0000765 ngày 24/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 01 /2024/KDTM-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01 /2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP V tranh chấp hợp đồng tín dụng Công ty TNHH X
