|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 10 tháng 01 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn.
- + Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh, Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu;
- 2. Ông Trần Đình Đậu, Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh Hương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2023/TLST-HS ngày 30/11/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2023/QĐXX-HS ngày 08/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/12/2023, đối với:
* Các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Thanh B; Sinh ngày 05/10/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu C, xã S, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1976 và bà: Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1986; Anh em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại xã S, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1986; (là mẹ đẻ bị cáo); Địa chỉ: Khu C, xã S, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Tiến A; Sinh ngày 03/11/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu E, xã H, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1983 và bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982 (đã chết); Anh em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại xã H, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: Ông Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1983; (là bố đẻ bị cáo); Địa chỉ: Khu E, xã H, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Trần Tuấn A1; Sinh ngày 13/4/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Trần Thanh L, sinh năm 1982 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Anh em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1982 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, (là bố, mẹ đẻ bị cáo); Địa chỉ: Khu A, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Thế Long G; Sinh ngày 01/12/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu D, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Thế H, sinh năm: 1982 và bà: Phan Thị D, sinh năm 1980; Anh em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm: 1982; (là Bố đẻ bị cáo); Địa chỉ: Khu D, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Đức T1; Sinh ngày 10/12/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đ, khu H, phường M, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1965 (đã chết) và bà: Đào Thị T2, sinh năm 1974; A, chị em ruột: Gia đình có 03 chị em, bị can là thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại phường M, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: Bà Đào Thị T2, sinh năm 1974, (là Mẹ đẻ bị cáo); Địa chỉ: Đ, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Nguyễn Thanh P; Sinh ngày 29/3/2007; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ D, khu T, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1974 và bà: Đặng Thị T3, sinh năm 1981; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại Tổ D, khu T, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
Người đại diện cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1974 và bà Đặng Thị T3, sinh năm 1981, (là bố, mẹ đẻ bị cáo); Địa chỉ: Tổ D, khu T, phường T, TP V, tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
-
Họ và tên: Tạ Quang T4; Sinh ngày 17/8/2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đ, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Tạ Quý M1, Sinh năm 1979 và bà: Nguyễn Thị L2, sinh năm 1978; Anh em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/7/2023. Hiện bị can đang tại ngoại tại đội 4, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
- Người đại diện cho bị cáo: ông Tạ Quý M1, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1978, (là bố, mẹ đẻ bị cáo); Địa chỉ: Đ, xã T, TP V, tỉnh Phú Thọ; (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh B và bị cáo Nguyễn Thế Long G: Bà Đỗ Hồng N2, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; (Có mặt).
* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Tiến A, Trần Tuấn A1, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4: Bà Nguyễn Thị S, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; (Có mặt).
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Trần Đức T5, sinh ngày 12/01/2006;
Địa chỉ: Khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Người đại diện: Bà Trần Phương A2, sinh năm 1981, (là mẹ đẻ); Địa chỉ: Khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, (T5 vắng mặt; Bà A2 có đơn xin xét xử vắng mặt).
-
Nguyễn Kim T6, sinh ngày 22/11/2008;
Địa chỉ: Tổ B, khu A, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ.
- Người đại diện: Bà Lê Thị Tố U, sinh năm 1970, (là mẹ đẻ); Địa chỉ: Tổ B, khu A, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Đều vắng mặt).
-
Lê Lưu Đ, sinh ngày 09/12/2007;
Địa chỉ: Tổ A, khu T, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện: Bà Phùng Thị Thu H2, sinh năm 1973, (là mẹ đẻ); Địa chỉ: Tổ A, khu T, phường T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Đều vắng mặt).
-
Vũ Công Đ1, sinh ngày 27/12/2007;
Địa chỉ: Đ, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Hồng H3, sinh năm 1983, (là mẹ đẻ); Địa chỉ: Đ, xã T, TP ., tỉnh Phú Thọ; (Đều vắng mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Kim T6, Lê Lưu Đ và Vũ Công Đ1: Bà Đinh Thị H4, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/7/2023, Đỗ Văn M2, sinh ngày 26/8/2009 (13 tuổi, 10 tháng, 11 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu D, xã T, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen không lắp biển kiểm soát chở theo Nguyễn Thanh B, sinh ngày 05/10/ 2006 (16 tuổi, 9 tháng, 04 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu C, xã S, thành phố V; Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/11/ 2006, hộ khẩu thường trú: Khu E, xã H, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không lắp biển số chở theo Nguyễn Kim T6, sinh ngày 22/11/2008 (14 tuổi, 7 tháng, 15 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu A, phường T, thành phố V; Nguyễn Thế Long G, sinh ngày 01/12/ 2006 (16 tuổi, 7 tháng, 18 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu D, xã T, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng, G dùng khẩu trang để che biển kiểm soát chở theo Trần Tuấn A1, sinh ngày 13/4/ 2006 (17 tuổi, 3 tháng, 06 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu A, phường T, thành phố V cùng nhau đi chơi vòng quanh hồ công viên V. Trên đường đi, nhóm của B gặp Tạ Quang T4, sinh ngày 17/8/ 2006 (16 tuổi, 11 tháng, 02 ngày), hộ khẩu thường trú: Đ, xã T, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không lắp biển số chở Vũ Công Đ1, sinh ngày 27/12/2007 (15 tuổi, 6 tháng, 10 ngày), hộ khẩu thường trú: Đ, xã T, thành phố V; Bùi Phương N3, sinh ngày 14/12/2007 (15 tuổi, 6 tháng, 23 ngày), hộ khẩu thường trú: Tổ E, khu T, phường T, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không lắp biển kiểm soát chở Lưu Quang A3, sinh ngày 28/9/2007 (15 tuổi, 9 tháng, 9 ngày), hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu T, phường T, thành phố V; Nguyễn Đức T1, sinh ngày 10/12/ 2006 (16 tuổi, 7 tháng, 09 ngày), hộ khẩu thường trú: Khu H, phường M, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, T1 dùng khẩu trang che biển số chở theo sau Nguyễn Thanh P, sinh ngày 29/3/2007 (16 tuổi, 3 tháng, 20 ngày), hộ khẩu thường trú: Tổ D, khu T, phường T, thành phố V; Lê Lưu Đ, sinh ngày 09/12/2007 (15 tuổi, 6 tháng, 29 ngày), hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu T, phường T, thành phố V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển kiểm soát 19B1-662.27 đi một mình. Sau đó, T4, Đ1, N3, Quang A3, T1, P và Đ nhập đoàn đi chơi cùng nhóm của B đi lòng vòng trên các tuyến đường quanh công viên V rồi ra đường H, thành phố V. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến ngã ba giao nhau giữa đường H và đường T thì T1, P, N3 và Quang A3 rủ nhau đi chơi B1-a nên tiếp tục đi thẳng theo hướng đi Bến xe khách V. Bắc và những người còn lại đang rẽ vào đường T thì nhìn thấy nhóm thanh niên gồm: Trần Đức T5, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 27Z1-200.04 chở theo Hoàng Khánh L3, sinh năm 2007, hộ khẩu thường trú: Khu Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Duy H5, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu G, thị trấn P, huyện P, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-418.23 chở theo Hoàng Tiến A4, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu H, xã B, huyện P; H, sinh năm 2007, hộ khẩu thường trú: Khu I, xã P, huyện P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-339.16 chở theo sau Lê Xuân Trường G1, sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú: Khu G, xã A, huyện P và Nguyễn Văn H6, sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú: Khu A, xã P, huyện P; H, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu D, xã B, huyện P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 19M1-238.69 chở theo sau Bùi Minh Q1, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Xã B, huyện P; Nguyễn Ngọc H7, sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú: Xã P, huyện P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không lắp biển số chở theo Nguyễn Công V, sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú: Khu A, xã P, huyện P; Nguyễn Xuân L4, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 19P1-331.24 chở theo Nguyễn Anh T7, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: Khu G, xã P, huyện P đi dàn hàng ngang trên đường T và đường H, không đội mũ bảo hiểm, có xe độ đèn chiếu sáng. Khi nhìn thấy nhóm của T5 đi dàn hàng ngang trên đường Đ nên nhóm của B nảy sinh ý định dồn đuổi nhóm của T5 với mục đích để thị uy. Bắc giơ tay vẫy các bạn và hô lên: "Dồn nó" rồi cả nhóm cùng tăng ga, phóng nhanh, lạng lách, đánh võng đuổi theo nhóm của T5 ra đường H. Nghe thấy B hô nên T1, P, N3 và Quang A3 cùng tăng ga để đuổi theo nhóm của T5. Nhóm của Bắc lúc này gồm: Nguyễn Thanh B, Đỗ Văn M2, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1, Tạ Quang T4, Vũ Công Đ1, Bùi Phương N3, Lưu Quang A3, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P, Lê Lưu Đ. Biết bị dồn đuổi nên nhóm của T4 đã tăng ga bỏ chạy. Hai nhóm dồn đuổi nhau trên đường H hướng đi phường N. Khi đuổi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường H và đường C thuộc phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì T1 và P đuổi kịp xe của T4. Do hoảng sợ, L3 ngồi phía sau xe đã lấy hai chiếc dép đang đeo ném về phía T1, một chiếc ném trượt và một chiếc ném trúng mặt của P. T1 và P cùng nhóm bạn tiếp tục tăng ga dồn đuổi T4, L3. Khi dồn đuổi đến đoạn gần khu vực chợ G2 thuộc phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đ điều khiển xe mô tô WINNER một mình đuổi kịp T4 và L3, Đông giơ chân đạp vào xe của T4 nhưng không trúng. Sau đó, Đ tiếp tục đuổi đến đoạn gần ngã tư dốc D thuộc khu B, phường N, thành phố V thì điều khiển xe mô tô vượt lên, tạt qua đầu xe của T4 để T4, L3 dừng xe lại. Do bị tạt đầu xe nên T4 mất lái và ngã xuống đường cùng L3, làm xây sát nhiều bộ phận trên người, tay và chân, xe máy và điện thoại di động bị hư hỏng. Lúc này, tất cả nhóm của B đã dồn đuổi đến nơi. T1 điều khiển xe máy chở theo P lao đến sát người T4, T4 bước lùi tránh né nên vấp vào lề đường và bị ngã xuống vỉa hè. Thấy T4 ngã xuống vỉa hè, B cùng M2, Đ1 và G nhảy xuống xe lao vào dùng tay chân đánh vào người T4. Nhìn thấy T4 bị đánh nên H7 cùng V, Tiến A4 và T7 đã quay lại và chạy đến chỗ T4 để can ngăn. V lao vào dùng tay đẩy vào người M2, làm M2 ngã xuống đường. Thấy vậy, Đ1, Tạ Quang T4, T1, P, M2 bỏ chạy. Cùng lúc này, A cùng T6 đi xe mô tô đến, A xuống xe lao vào dùng hai tay ôm lấy T7 từ phía sau còn T6 lấy 01 đoạn tre dài khoảng 02 mét, đường kính khoảng 3cm, thân rỗng, khô cắm ở gốc cây ven đường vụt 02 cái trúng vào vùng tai trái và cánh tay trái của T7, làm xây sát, chảy máu. T6 tiếp tục cầm đoạn tre cùng A và B quay ra dồn đuổi làm Tiến A4, V, H7 hoảng sợ và lên xe mô tô bỏ chạy theo hướng đi huyện P. Thấy vậy, A lấy xe mô tô đi đến vị trí B và T6 đứng chở B và T6 cầm đoạn tre đuổi theo nhóm thanh niên P2. Thấy A, B và T6 tiếp tục dồn đuổi, Tuấn A1 và G điều khiển xe đi phía sau rồi về nhà. Còn Đ, N3, M2 và Quang A3 điều khiển xe đi về nhà. Sau khi dồn đuổi đến ngã ba Minh P1 nhưng không kịp nên A cùng B, T6 đi đến đoạn đường gần cây xăng M3 thuộc tổ C, khu T, phường M, thành phố V thì T6 vứt đoạn tre ở đây rồi cả nhóm bảo nhau đi về nhà. Hình ảnh hai nhóm dồn đuổi nhau đã được người dân phản ánh lên mạng xã hội FACEBOOK. Sau khi nhận thông tin phản ánh của người dân và chính quyền địa phương, Công an thành phố V đã tiến hành xác minh vụ việc. Đến ngày 08/7/2023, Trần Đức T5 đã đến Công an thành phố V để trình báo sự việc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc được 26 đối tượng của hai nhóm, tạm giữ 13 chiếc xe mô tô mà các đối tượng đã sử dụng, đồng thời dẫn giải T6 đến vị trí vứt đoạn tre nhưng không thu giữ được. Tiến hành thu giữ các đoạn video ghi nhận việc các đối tượng dồn đuổi, đánh nhau do những người dân tại khu vực xảy ra sự việc cung cấp và đã điều tra làm rõ nhóm đối tượng gồm: Nguyễn Thanh B, Đỗ Văn M2, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1, Tạ Quang T4, Vũ Công Đ1, Bùi Phương N3, Lưu Quang A3, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P, Lê Lưu Đ đã có hành vi hô hoán, dùng phương tiện xe mô tô lạng lách, dồn đuổi những thanh niên đi xe mô tô huyện P với tốc độ cao, gây tiếng ồn, nguy hiểm cho người khác gây hoang mang, lo sợ cho những người tham gia giao thông trên đường và quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu ở trên. Riêng Nguyễn Thế Long G không thừa nhận việc đánh Trần Đức T5 tại khu vực ngã tư dốc D. Tuy nhiên, quá trình điều tra Trần Tuấn A1 là người đi cùng xe với G, Đỗ Văn M2, Tạ Quang T4, Nguyễn Thanh B đều có lời khai khẳng định Nguyễn Thế Long G đã tham gia đánh Trần Đức T5. Đặc biệt khi tiến hành nhận dạng Hoàng Khánh L3 và Nguyễn Anh T7 xác định được Nguyễn Thế Long G là người đã đánh Trần Đức T5. Từ đó có đủ căn cứ xác định G đã dùng tay, chân đánh gây thương tích cho T5.
Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3 và Nguyễn Anh T7. Tuy nhiên T5, L3 và Anh T7 đều từ chối đi giám định. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải đối với T5, L3 và Anh T7 nhưng T5, L3 và Anh T7 kiên quyết từ chối đi giám định.
Ngày 21/8/2023, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V đã tiến hành yêu cầu định giá thiệt hại của tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE BKS 27Z1-200.07 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR màu đỏ của Trần Đức T5 bị hư hỏng vào ngày 07/7/2023. Tại Kết luận định giá tài sản số 702, 704/KL-HĐĐGTS cùng ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận: Phần thiệt hại của xe máy nhãn hiệu có tổng giá trị là 470.000 đồng. Phần thiệt hại của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR màu đỏ bị vỡ mặt trước và mặt sau có giá là 1.000.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của hai tài sản trên là 1.470.000 đồng.
Quá trình điều tra các gia đình của Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Lê Lưu Đ, Vũ Công Đ1, Nguyễn Đức T1 đã tự bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khoẻ cho Trần Đức T5 với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). T5 đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Đối với thương tích của Nguyễn Anh T7, T7 không có yêu cầu đề nghị gì về việc nhận bồi thường thiệt hại.
Đối với Nguyễn Tiến A có hành vi sử dụng xe mô tô chở theo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Kim T6 cầm theo hung khí tiếp tục dồn đuổi theo nhóm thanh niên Phù Ninh mục đích để đánh nên Nguyễn Tiến A và Nguyễn Thanh B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”, với tình tiết định khung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Kim T6, Vũ Công Đ1, Lưu Quang A3, Bùi Phương N3 và Lê Lưu Đ tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật các đối tượng chưa đủ 16 tuổi. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này về hành vi "Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng".
Đối với hành vi gây thương tích của Nguyễn Thanh B, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Tiến A, Vũ Công Đ1, Lê Lưu Đ, Nguyễn Kim T6 và Đỗ Văn M2 cho Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3 và Nguyễn Anh T7. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và Quyết định dẫn giải nhưng T5, L3 và T7 kiên quyết từ chối giám định nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh B, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Tiến A, Vũ Công Đ1, Lê Lưu Đ và Nguyễn Kim T6 về hành vi "Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự" quy định tại điểm b khoản 2, điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, bằng hình thức "Cảnh cáo". Đối với Đỗ Văn M2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hành chính, Cơ quan điều tra đã tiến hành nhắc nhở và yêu cầu M2 cam kết không tái phạm.
Đối với Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3, Nguyễn Duy H5, Hoàng Tiến A4, Hoàng Quốc T8, Lê Xuân Trường G1, Nguyễn Văn H6, Hà Xuân N4, Bùi Minh Q1, Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Công V, Nguyễn Xuân L4 và Nguyễn Anh T7: là những người bị nhóm của Nguyễn Thanh B đuổi đánh trên đường H, nên buộc phải điều khiển xe mô tô bỏ chạy trên đường phố. Khi T5 và L3 bị ngã xe và bị B, Đ1, G1 lao vào dùng tay chân đánh, thì Tiến A4 cùng T7, V và H7 có quay lại để can ngăn, không đánh gây thương tích cho ai. Xét thấy hành vi của Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3, Nguyễn Duy H5, Hoàng Tiến A4, Hoàng Quốc T8, Lê Xuân Trường G1, Nguyễn Văn H6, Hà Xuân N4, Bùi Minh Q1, Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Công V, Nguyễn Xuân L4 và Nguyễn Anh T7 là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình, không có mục đích gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của 26 đối tượng gồm: Nguyễn Thanh B, Đỗ Văn M2, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1, Tạ Quang T4, Vũ Công Đ1, Bùi Phương N3, Lưu Quang A3, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P, Lê Lưu Đ, Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3, Nguyễn Duy H5, Hoàng Tiến A4, Hoàng Quốc T8, Lê Xuân Trường G1, Nguyễn Văn H6, Hà Xuân N4, Bùi Minh Q1, Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Công V, Nguyễn Xuân L4 và Nguyễn Anh T7 tham gia trong vụ việc trên đã tham gia điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa có bằng lái xe, không đội mũ bảo hiểm, xe không gắn biển kiểm soát vi phạm quy định tại điểm i, khoản 2 Điều 7; điểm b, khoản 1 Điều 17; khoản 1 và điểm a, khoản 4 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên theo quy định.
Về điều kiện kinh tế của các bị can: Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã xác minh, làm rõ: Các bị can trong vụ án đều sống cùng gia đình, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các bị can không có tài sản riêng gì.
* Tại Cáo trạng số: 178/CT-VKS-VT ngày 29 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố:
- - Các bị cáo: Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
- - Các bị cáo: Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào:
- - Điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 38, Điều 17, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Thanh B và bị cáo Nguyễn Tiến A;
- - Khoản 1 Điều 318, khoản 1, 2, 4 Điều 36, Điều 17, Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Đức T1 và Tạ Quang T4;
- - Khoản 1 Điều 318, khoản 1,2,4 Điều 36, Điều 17, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật Hình sự; đối với các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P;
- - Khoản 3 Điều 106, khoản 1, 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án; đối với các bị cáo.
Về Hình phạt chính:
- - Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Thanh B từ 24 - 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Tiến A từ 24 - 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Đề nghị xử bị cáo Trần Tuấn A1 từ 07 - 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Thế Long G từ 09 - 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Đức T1 từ 07 - 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đề nghị xử bị cáo Nguyễn Thanh P từ 07 - 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đề nghị xử bị cáo Tạ Quang T4 từ 07 - 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
- - Giao các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4 cho UBND nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
- + Buộc các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại nơi các bị cáo cư trú trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- - Trong thời gian cải tạo không giam giữ các bị cáo còn phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- - Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
- - Không khấu trừ thu thập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho các bị cáo:
- - Bà Nguyễn Thị S đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo A mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên; còn các bị cáo T1, P, A1 và T4 đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- - Bà Đỗ Hồng N2 đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo B mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên; còn bị cáo G đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- - Đại diện hợp pháp cho các bị cáo và các bị cáo đều nhất trí ý kiến của người bào chữa và không tham gia tranh luận gì về luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo B và bị cáo A và người đại diện đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa khuyết điểm của mình; Các bị cáo G, A, T1, P, T4 và những người đại diện đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người giám hộ và người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 22 giờ ngày 07/7/2023, trên đường H thuộc địa phận các phường G và phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 đã điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên đường để dồn đuổi và đã đánh một số thanh niên nhóm ở huyện P, tỉnh Phú Thọ tại khu vực dốc D thuộc khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, Nguyễn Tiến A điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thanh B và Nguyễn Kim T6 cầm theo hung khí là đoạn tre lấy trên vỉa hè tiếp tục dồn đuổi để đánh nhóm thanh niên ở huyện P, đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường H và đường N thì dừng lại.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”; tội phạm và hình phạt mà các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt là: “Dùng hung khí”; Còn các bị cáo: Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a)
b) Dùng ... hung khí..;”.
[2.2]. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Thanh B là người khởi xướng để các bị cáo Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 cùng tiếp nhận ý chí và tất cả các bị cáo cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây rối trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây phẫn nộ đối với quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1 và Tạ Quang T4 thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.4]. Từ những đánh giá và phân tích trên thấy rằng, do tuổi đời còn trẻ và chỉ vì muốn thể hiện cái tôi cá nhân nên các bị cáo mới thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và xét thấy:
- – Đối với bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu là người thành niên thì cần xử phạt các bị cáo mức án từ 32 đến 36 tháng tù. Nhưng xét thấy khi phạm các bị cáo là người chưa thành niên, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự và xử phạt các bị cáo với mức án từ 24 đến 27 tháng tù đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội sau này là phù hợp;
- - Đối với các bị cáo Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần cho các bị cáo được áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự và cần xử phạt các bị cáo từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ cũng đủ điều kiện cải tạo. Nhưng xét thấy, khi phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 100 Bộ luật Hình sự và xử phạt các bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa lỗi lầm và thể hiện chính sách pháp luật của Nhà nước ta khi xử phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thật sự biết ăn năn, hối cải là phù hợp.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại nơi các bị cáo cư trú. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần và không khấu trừ thu thập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo là phù hợp.
[2.5]. Về hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ của: Nguyễn Thanh B, Đỗ Văn M2, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1, Tạ Quang T4, Vũ Công Đ1, Bùi Phương N3, Lưu Quang A3, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P, Lê Lưu Đ, Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3, Nguyễn Duy H5, Hoàng Tiến A4, Hoàng Quốc T8, Lê Xuân Trường G1, Nguyễn Văn H6, Hà Xuân N4, Bùi Minh Q1, Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Công V, Nguyễn Xuân L4 và Nguyễn Anh T7 tham gia trong vụ việc trên đã tham gia điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trên đường khi chưa có bằng lái xe, không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe không gắn biển kiểm soát, đã vi phạm Nghị định số: 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ. Nên, Cơ quan CSĐT đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên, là phù hợp.
[2.6]. Đối với Nguyễn Kim T6, Vũ Công Đ1, Lưu Quang A3, Bùi Phương N3 và Lê Lưu Đ tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật các đối tượng chưa đủ 16 tuổi. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, Cơ quan CSĐT đã chuyển Công an T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng", là phù hợp.
[2.7]. Đối với hành vi của Nguyễn Thanh B, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Tiến A, Vũ Công Đ1, Lê Lưu Đ, Nguyễn Kim T6 và Đỗ Văn M2 gây thương tích cho Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3 và Nguyễn Anh T7. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và Quyết định dẫn giải nhưng T5, L3 và T7 kiên quyết từ chối giám định. Nên Cơ quan CSĐT đã chuyển Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính đối với B, T1, G, A, Đ1, Đ và T6 về hành vi "Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự", theo Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, bằng hình thức "Cảnh cáo"; còn Đỗ Văn M2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hành chính, nên Cơ quan CSĐT đã nhắc nhở và yêu cầu M2 cam kết không tái phạm, là phù hợp.
[2.8]. Đối với Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3, Nguyễn Duy H5, Hoàng Tiến A4, Hoàng Quốc T8, Lê Xuân Trường G1, Nguyễn Văn H6, Hà Xuân N4, Bùi Minh Q1, Nguyễn Ngọc H7, Nguyễn Công V, Nguyễn Xuân L4 và Nguyễn Anh T7 là những người bị nhóm của Nguyễn Thanh B đuổi đánh trên đường nên buộc phải điều khiển xe mô tô bỏ chạy trên đường phố. Khi T5 và L3 bị ngã xe và bị B, Đ1 và G1 lao vào dùng tay chân đánh, thì A4 cùng T7, V và H7 có quay lại để can ngăn, không gây thương tích cho ai. Xét thấy, hành vi của T5, L3, H5, A, T8, G1, H6, N4, Q1, H7, V, L4 và T7 là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình, không có mục đích gây rối trật tự công cộng. Nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là phù hợp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, khi phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên, sống phụ thuộc gia đình, không có thu nhập và không có tài sản riêng. Nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[4]. Về trách nhiệm dân sự:
[4.1]. Đối với thương tích của Trần Đức T5, Hoàng Khánh L3 và Nguyễn Anh T7. Cơ quan CSĐT đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với T5, L3 và T7. Tuy nhiên, T5, L3 và T7 đều từ chối đi giám định. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải đối với T5, L3 và T7 nhưng T5, L3 và T7 kiên quyết từ chối đi giám định và không có yêu cầu bồi thường gì. Nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xem xét là phù hợp.
[4.2]. Đối với thiệt hại của chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 27Z1-200.07 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR màu đỏ của Trần Đức T5 bị hư hỏng vào ngày 07/7/2023. Ngày 21/8/2023, Cơ quan CSĐT đã tiến hành yêu cầu định giá thiệt hại. Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận: Phần thiệt hại của chiếc xe máy là 470.000 đồng, thiệt hại của chiếc điện thoại là 1.000.000 đồng; Tổng giá trị thiệt hại là 1.470.000 đồng. Quá trình điều tra các gia đình của Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Kim T6, Lê Lưu Đ, Vũ Công Đ1, Nguyễn Đức T1 đã tự bồi thường về tài sản và sức khoẻ cho T5 với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), T5 đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Nên không xem xét là phù hợp.
[5]. Về xử lý vật chứng:
[5.1]. Cơ quan điều tra đã thu giữ 13 xe mô tô các đối tượng dùng sử dụng ngày 07/7/2023 gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu trắng, không lắp biển số, là xe máy do Nguyễn Ngọc H7 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng BKS 27Z1-200.04, xe bị hư hỏng một số bộ phận là xe do Trần Đức T5 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, không lắp biển số, là xe do Vũ Công Đ1 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng nâu, BKS 19B1-349.93, là xe do Trần Tuấn A1 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen BKS 19M1-238.69, là xe do Nguyễn Anh T7 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 19B1-615.54, là xe do Nguyễn Tiến A sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, không lắp biển số, là xe do Đỗ Văn M2 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng, BKS 19B1-594.97, là xe do Lưu Quang A3 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen bạc, BKS 19B1-571.82, là xe do Nguyễn Đức T1 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX màu đen BKS 19B1-662.27, là xe do Lê Lưu Đ sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, BKS 19P1-339.16, là xe do Lê Xuân Trường G1 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh BKS 19P1-418.23, là xe do Hoàng Tiến A4 sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, BKS 19P1-331.24, là xe do Nguyễn Xuân L4 sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT xác định đều là xe mà các đối tượng tự lấy của bố, mẹ, người thân quen đem đi sử dụng. Những người chủ xe không biết các đối tượng sử dụng xe để làm gì. Do vậy, ngày 31/8/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trao trả cho các chủ sở hữu hợp pháp. Nên cần xác nhận các biên bản trao trả tài sản cho chủ sở hữu do Cơ quan CSĐ lập, lưu trong hồ sơ là hợp pháp.
[5.2]. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT còn thu giữ: 01 (Một) Đĩa DVD trích 12 (Mười hai) đoạn video CAMERA dọc tuyến đường H tại thời điểm 22 giờ ngày 07/7/2023; 01 (Một) Đĩa DVD chứa đoạn video quay lại sự việc tại khu vực ngã tư dốc Dệt ngày 07/7/2023 và 01 (Một) Đĩa DVD chứa đoạn video quay lại sự việc tại khu vực ngã tư dốc Dệt ngày 07/7/2023. Các vật chứng này hiện được đánh số bút lục lưu trong hồ sơ vụ án.
[6]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[7]. Xét đề nghị của những người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8]. Xét luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Thanh B và bị cáo Nguyễn Tiến A;
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1, 2, 4 Điều 36; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự; đối với các bị cáo Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1 và Nguyễn Thanh P;
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1, 2, 4 Điều 36; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự; đối với các bị cáo Nguyễn Đức T1 và Tạ Quang T4;
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 106, khoản 1, 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án; đối với các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Thế Long G, Trần Tuấn A1, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Long G 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
+ Giao bị cáo Nguyễn Thế Long G cho UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Thế Long G, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.
-
- Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
+ Giao bị cáo Trần Tuấn A1 cho UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
+ Buộc bị cáo Trần Tuấn A1, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
+ Giao bị cáo Nguyễn Đức T1 cho UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Đức T1, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.
-
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
+ Giao bị cáo Nguyễn Thanh P cho UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.
-
- Xử phạt bị cáo Tạ Quang T4 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được bản án và quyết định thi hành án.
+ Giao bị cáo Tạ Quang T4 cho UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
+ Buộc bị cáo Tạ Quang T4, phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong 01 (Một) ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4 còn phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Trường hợp các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
- Không khấu trừ thu thập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Tuấn A1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thanh P và Tạ Quang T4.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Kim T6, Lê Lưu Đ, Vũ Công Đ1 đã tự bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khoẻ cho Trần Đức T5 với số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), tại Cơ quan CSĐT là hợp pháp.
- Về xử lý vật chứng: Xác nhận các biên bản trao trả tài sản là 13 chiếc xe mô tô cho các chủ sở hữu do Cơ quan CSĐT lập lưu trong hồ sơ là hợp pháp.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Thế Long G, Nguyễn Thanh P, Tạ Quang T4 và Trần Tuấn A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người đại diện, người bào chữa có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật)./.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Tuấn |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: B và Đp gây rối trạt tự
