TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 01/2024/DS-ST Ngày 10/01/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thanh Thúy.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2023/TLST- KDTM ngày 17 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QÐST-KDTM ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần N, địa chỉ: Đường C, khu C, KCN P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần D - Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thu H, bà Trịnh Thu H1 - Cán bộ pháp chế. Bà Phạm Thị Thu H có mặt.
- Bị đơn: Ông Mai Quang T. Địa chỉ: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Tháng 01/2021, Công ty cổ phần N và ông Mai Quang T đã ký Hợp Đồng nguyên tắc mua bán hàng hoá với các nội dung chính như sau: Về hàng hoá: Công ty cổ phần N cung cấp các mặt hàng thuộc lĩnh vực nhôm xây dựng và nhôm công nghiệp cho H2 kinh doanh Mai Quang T; Về giá cả sản phẩm: theo bảng báo giá của Công ty cổ phần N; Về thời hạn thanh toán: Hộ kinh doanh Mai Quang T thực hiện thanh toán công nợ cho Công ty cổ phần N thành 02 đợt:
- Đợt 1: Vào ngày 20 hàng tháng, H2 kinh doanh Mai Quang T thanh toán cho Công ty cổ phần N công nợ tính đến thời điểm thanh toán;
- Đợt 2: Hộ kinh doanh M thanh toán hết công nợ đã chốt của tháng cho Công ty cổ phần N vào ngày mồng 5 của tháng kế tiếp.
Kể từ thời điểm ký kết Hợp đồng, Công ty cổ phần N đã tiến hành cung cấp hàng hóa theo đúng quy định tại nội dung hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên Hộ kinh doanh Mai Quang T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa hai bên, cụ thể: Hộ kinh doanh Mai Quang T đã không thanh toán công nợ theo đúng quy định tại Hợp đồng.
Tại Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ gần đây nhất vào ngày 31/7/2022 ghi nhận Hộ kinh doanh Mai Quang T còn nợ Công ty cổ phần N số tiền nợ gốc là 335.404.610 đồng (Bằng chữ: Ba trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm linh bốn nghìn, sáu trăm mười đồng).
Công ty cổ phần N đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thanh toán công nợ nhưng đều không nhận được sự hợp tác và phản hồi từ phía Hộ kinh doanh Mai Quang T. Thời điểm gần đây nhất vào ngày 02/8/2023, Công ty cổ phần N đã gửi văn bản thông báo khởi kiện tới Hộ kinh doanh Mai Quang T (căn cứ theo phiếu theo dõi đơn hàng, ông Mai Quang T đã nhận được thư ngày 03/8/2023).
Căn cứ theo quy định Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền và lãi suất áp dụng đối trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, theo đó mức lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định bằng 10%/năm trên số tiền chậm thanh toán. Theo đó, nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc của Hợp Đồng từ ngày 31/7/2022 (là thời điểm đối chiếu công nợ gần nhất giữa hai bên) tạm tính đến ngày 10/01/2023 là: 48.434.570 đồng (bằng chữ: bốn mươi tám triệu bốn trăm ba mươi tư nghìn năm trăm bảy mươi đồng).
Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn trình bày việc ông Mai Quang T không thanh toán đúng hạn và đầy đủ theo cam kết đã gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần N. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xem xét giải quyết:
- Buộc ông Mai Quang T thanh toán cho Công ty cổ phần N tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 10/01/2024 là: 383.839.180 đồng (bằng chữ: ba trăm tám mươi ba triệu tám trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi đồng), trong đó: nợ gốc 335.404.610 đồng và nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc 48.434.570 đồng.
- Buộc ông Mai Quang T phải thanh toán nợ lãi chậm thanh toán của Hợp đồng kể từ ngày 10/01/2024 cho đến ngày thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ cho Công ty cổ phần N.
Tại bản tự khai ngày 13/11/2023, bị đơn ông Mai Quang T trình bày:
Tháng 01 năm 2021, ông Mai Quang T và Công ty cổ phần N đã ký hợp đồng nguyên tắc mua bán hàng hóa là các mặt hàng thuộc nhôm xây dựng và nhôm công nghiệp do Công ty cổ phần N sản xuất cung ứng. Giá cả, thời hạn thanh toán theo thỏa thuận theo biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày 31/7/2022. Ông T xác nhận ông có nợ công ty cổ phần N 335.404.610 đồng, ông T có trách nhiệm trả nợ gốc dần cho công ty, còn đối với nợ lãi thì ông đề nghị Công ty cổ phần N xem xét cắt giảm lãi do gia đình ông gặp nhiều khó khăn trong làm ăn kinh doanh.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La có ý kiến như sau:
- Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩmphán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không lý do lần thứ 2 tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn ông Mai Quang T theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 430; 440 Bộ luật Dân sự; Điều 306 Luật Thương mại; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Mai Quang T phải trả cho Công ty cổ phần N tính đến ngày 10/01/2024 383.839.180 đồng (bằng chữ: ba trăm tám mươi ba triệu tám trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi đồng), trong đó: nợ gốc 335.404.610 đồng và nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc 48.434.570 đồng; Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần N và ông Mai Quang T với mục đích lợi nhuận được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Mai Quang T đăng ký hộ kinh doanh có địa chỉ trụ sở trên địa bàn thành phố S, tỉnh Sơn La nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về tính pháp lý của hợp đồng:
Hợp đồng nguyên tắc số 75.05/HĐNT/2021 tháng 01 năm 2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần N (đại diện ông Mai Quang T) là hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung và mục đích phù hợp với quy định tại các điều 385; 398; 400; 401 và 430 của Bộ luật Dân sự nên hợp đồng là hợp pháp, là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
[2.2] Về số tiền nợ gốc: Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần N đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng trong việc cung cấp hàng hóa đúng, đầy đủ cho cửa hàng của ông Mai Quang T.
Theo Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ tính đến ngày 31/7/2022, ông Mai Quang T còn nợ Công ty cổ phần N số tiền 335.404.610đ, ông Nguyễn Quốc T1 - đại diện Công ty cổ phần N và ông Mai Quang T đã ký xác nhận nội dung biên bản. Phía dưới biên bản còn có dòng chữ viết tay xác nhận: “28/02/2023 tại nhà anh T: Hôm nay T1 lên xác nhận về công nợ. Anh T hẹn sẽ trả hết công nợ trả dần hàng tháng đến cuối năm hết nợ.” Ông Mai Quang T đã ký tên, xác nhận nội dung viết tay trong Biên bản.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Mai Quang T cũng thừa nhận còn nợ Công ty cổ phần N số tiền hàng là 335.404.610 đồng theo đúng yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần N về số tiền nợ gốc. Như vậy, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3] Về số tiền lãi chậm trả:
Nguyên đơn Công ty cổ phần N yêu cầu bị đơn ông Mai Quang T phải trả cho Công ty cổ phần N nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc là 48.434.570 đồng (tính đến ngày 10/01/2024) và tiếp tục trả cho đến khi hết nợ. Nguyên đơn xác định lãi suất phát sinh do chậm trả là 10%/năm (căn cứ theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự) tính từ ngày 31/7/2022 (thời điểm đối chiếu công nợ giữa hai bên) tạm tính đến ngày 10/01/2024.
Tại bản tự khai, bị đơn ông Mai Quang T nhất trí trả nợ gốc, có ý kiến đề nghị nguyên đơn xem xét cắt giảm lãi chậm trả do gia đình làm ăn khó khăn. Tòa án đã triệu tập các đương sự đến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các bên thỏa thuận hướng giải quyết vụ án nhưng ông Mai Quang T vắng mặt cả hai lần. Nhận thấy bị đơn không có thiện chí phối hợp để xử lý vụ việc nên đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã làm đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải nữa và đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa ngày 10/01/2024, ông T vắng mặt không lý do lần thứ 2, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ lãi chậm thanh toán dựa trên dư nợ gốc của nguyên đơn là có căn cứ, đối chiếu theo quy định tại theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định về trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn (20%/năm), tương đương với mức 10%/năm và Điều 306 Luật Thương mại: Xác định có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần N buộc ông Mai Quang T phải trả số tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 31/7/2022 đến ngày 10/01/2024 là 48.434.570 đồng. Ông T còn phải chịu khoản nợ lãi chậm trả đến khi thanh toán hết nợ.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị đơn ông Mai Quang T phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là: 19.192.000đ (mười chín triệu một trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Nguyên đơn Công ty cổ phần N được hoàn trả án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 9.290.000đ (chín triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số 0000132 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 385; 401; 430; 440; 357; 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 50 và 306 Luật Thương mại;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần N:
- Về án phí:
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Ông Mai Quang T phải trả cho Công ty cổ phần N theo Hợp đồng nguyên tắc số 75.05/HĐNT/2021 tháng 01 năm 2021 tổng số tiền nợ tính đến ngày 10/01/2024 là: 383.839.180 đồng (bằng chữ: ba trăm tám mươi ba triệu tám trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi đồng), trong đó: nợ gốc 335.404.610 đồng và nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc 48.434.570 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Bị đơn ông Mai Quang T phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là 19.192.000đ (mười chín triệu một trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Hoàn trả cho Công ty cổ phần N án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 9.290.000đ (chín triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số 0000132 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Nguyên đơn Công ty cổ phần N có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/01/2024). Bị đơn ông Mai Quang T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Bích Hồng |
Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 01/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty CP Nhôm Ngọc Diệp - Mai Quang Trung
