TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do– Hạnh Phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 10 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Ông Phan Minh Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường T - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 319/2023/HSST ngày 04/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2023/QĐXXST-HS ngày 27/12/2023 đối với bị cáo:
Chu Văn B; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1987 tại tỉnh Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con Chu Văn V và bà Vũ Thị T1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con. Tiền sự: Không, Tiền án: 05 tiền án. Năm 2005, bị Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bắt và bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2007, bị Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai bắt và bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành án xong năm 2011; Năm 2012, bị Công an huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt và bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành xử 03 năm 06 tháng tù giam, chấp hành án xong năm 2015; Năm 2016, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai bắt và bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành án xong năm 2018; Tháng 7 năm 2019, bị Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bắt và bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành án xong năm 2022; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2023 (có mặt).
Bị hại:
- Ông Hồ Anh T2, sinh năm 1976; Địa chỉ: E L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Bà Đinh Lê Ngọc Á, sinh năm 1997; Địa chỉ: 9 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: B Chung cư T, số D T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm 2003, Địa chỉ: 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- Bà Lê Đỗ Như B1, sinh năm 1995, Địa chỉ: G Q, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Đình L, sinh năm 1988; Địa chỉ: 2 đường C B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 18 giờ ngày 13/3/2023, Chu Văn B điện thoại rủ Trần Văn H (sinh năm: 1989, HKTT: B Đường số B, phường F, quận G) đi uống nước, Trần Văn H đồng ý. Chu Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 49L1- 124.63 từ phòng trọ địa chỉ: 5 Quốc lộ A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến chở Trần Văn H đi uống nước. Khoảng 21 giờ cùng ngày Chu Văn B chở Trần Văn H về, do có ý định đi trộm cắp từ trước nên Chu Văn B gửi xe mô tô tại nhà Trần Văn H tại địa chỉ trên và nói với Trần Văn H đi công việc một chút rồi về. Khoảng hơn 00 giờ ngày 14/3/2023, Chu Văn B đi bộ quanh các tuyến đường khu Công viên văn hóa P, quận G xem nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, Chu Văn B đi bộ đến trước địa chỉ nhà số E đường L, phường A, quận G thấy lầu 2 căn nhà cửa sổ mở, nên Chu Văn B đột nhập leo vào lầu 01, rồi leo lên lầu 2 ngôi nhà. Khi leo được lên lầu 02, Chu Văn B thấy cánh cửa sổ mở một cánh, Chu Văn B chui qua được ô cửa sổ vào lầu 02 nhưng không có tài sản gì nên Chu Văn B đi xuống lầu 1 thì thấy 02 laptop hiệu Dell màu trắng, 01 laptop hiệu Microsoft màu đen để trên bàn làm việc, Chu Văn B đi lại bàn làm việc kéo hộc tủ ra thì thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 8800, 03 đồng hồ đeo tay hiệu Omega và 01 bao thư nên mở ra thấy bên trong có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 xấp tiền đô la Mỹ có mệnh giá 02 USD. Chu Văn B rút 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng ra khỏi bao thư và bỏ vào trong túi quần phía trước bên phải. Chu Văn B lấy 01 chiếc túi xách bỏ 03 laptop, 03 đồng hồ đeo tay hiệu Omega, điện thoại Nokia 8800 và xấp tiền 02 USD vào trong giỏ rồi tẩu thoát ra ngoài theo hướng ô cửa sổ lúc đầu đột nhập vào. Trên đường tẩu thoát về nhà Trần Văn H thì Chu Văn B làm rơi 01 laptop màu trắng (rơi khi nào B không nhớ do túi xách nhỏ mà tài sản trộm được nhiều nên B không kéo được khóa túi xách). Chu Văn B đi bộ đến gần ngã tư L - N đón xe ôm đến ngã Tư G và ngồi quán nước ở lề đường và gọi điện thoại cho Trần Văn H (lúc này khoảng 05 giờ sáng) nói chạy xe mô tô của Chu Văn B ra. Khoảng 10 phút sau Trần Văn H chạy ra, Chu Văn B lấy 01 chiếc đồng hồ dây da vừa trộm được ra thì Trần Văn H nhìn thấy và khen đẹp nên Chu Văn B đưa cho Trần Văn H sử dụng. Sau khi uống nước xong Chu Văn B chở Trần Văn H về nhà, rồi một mình điều khiển xe mô tô chạy về phòng trọ, địa chỉ 521/18 Quốc lộ A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trên đường về Chu Văn B vứt chiếc túi xách bên trong có xấp tiền 02 USD, 01 đồng hồ có dây bằng kim loại do đồng hồ bị rỉ sét và không còn hoạt động (B không nhớ vứt ở chỗ nào). Về đến phòng trọ Chu Văn B nghỉ ngơi cho đến 16 giờ cùng ngày, thì đem 02 chiếc laptop trộm được còn lại đi bán. Chu Văn B đem 01 laptop hiệu Dell màu trắng đến cửa hàng Đ, địa chỉ số D đường B, tổ C, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho Vũ Đình L (sinh năm: 1988 Chỗ ở: 245/25 đường B, khu phố E, phường L, thành phố B, Đồng Nai) với giá 3.700.000 đồng; 01 laptop hiệu Microsoft màu đen Chu Văn B đến trạm chờ xe buýt trước cây xăng bến xe tỉnh Đ bán cho khách (không rõ lai lịch) với giá 600.000 đồng. Đến ngày 22/3/2023, Chu Văn B bị Công an quận G đưa về làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cơ quan Công an đã thu giữ chiếc điện thoại N 8800 cùng số tiền 2.000.000 đồng (gồm số tiền B bán 02 chiếc laptop và 1.000.000 trộm được), số tiền còn lại B đã tiêu xài hết. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Văn B tại phòng trọ số 9, địa chỉ: 5 Quốc Lộ A, phường L, thành phố B, Đồng Nai thu giữ 01 chiếc đồng hồ hiệu Omega có dây đeo bằng da và quần áo, nón kết Chu Văn B mặc, đội khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Chu Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Đồng thời, Chu Văn B đã thừa nhận mình có thực một vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 10/11/2022, Chu Văn B một mình đón xe ôm từ khu vực Phường F, quận G đến khu vực quận P, đến khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày, Chu Văn B đi bộ lòng vòng vào các hẻm nhỏ tại quận P để tìm nhà nào sơ hở sẽ đột nhập trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà số A đường H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thấy cửa chính tại ban công lầu 01 của nhà này đang hé mở, Chu Văn B đi bộ ngang qua rồi đi bộ vòng lại, leo lên cột điện trèo vào ban công lầu 01 nhà số A đường H, Phường A, quận P. Khi vào trong nhà, Chu Văn B đã lục lọi phòng làm việc tại lầu 02 lấy trộm được các tài sản gồm: 02 (hai) máy tính xách tay, 01 máy tính xách tay hiệu HP Elitebook G8; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell latitude E5490; 01 (một) ba lô màu đen không rõ hiệu bên trong có chứa 01 (một) máy ảnh hiệu Canon EOS R và các phụ kiện gồm: 01 (một) ngàm chuyển máy ảnh hiệu Canon R; 01 (một) Lens máy ảnh hiệu Canon EF 24-70 F2.8L; 01 (một) đèn flash máy ảnh hiệu Godox V860i. Sau đó, Chu Văn B đi bộ theo cầu thang xuống tầng trệt, tìm kiếm lấy trộm thêm các tài sản gồm: 01(một) máy tính xách tay hiệu ASI X509J; 01 (một) điện thoại động hiệu S 10 plus màu trắng bạc; 01 (một) Ipad 2 màu bạc và 3.000.00 đồng (ba triệu đồng) tiền mặt để trong hộp đựng tiền. Sau khi lấy trộm, Chu Văn B thoát ra ngoài theo lối đã đột nhập vào, đón taxi về khu vực quận G rồi đi đến khu vực B tỉnh Đồng Nai (không nhớ địa chỉ cụ thể) để bán các tài đã trộm cắp gồm: 03 (ba) máy tính xách tay, 01(một) điện thoại di động và 01 (một) Ipad cho người đi đường (không rõ lai lịch) được số tiền khoảng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và tiêu xài cá nhân hết số tiền này cùng với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) mà B đã trộm cắp được. Riêng ba lô màu đen chứa 01 (một) máy ảnh và phụ kiện gồm: Ngàm, lens máy ảnh và đèn flash thì Chu Văn B đã vứt bỏ mất (không nhớ vứt ở đâu).
Vật chứng vụ án:
* Vật chứng vụ án xảy ra tại quận G:
- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G kết luận:
- 01 (một) chiếc điện thoại nokia 8800 đã qua sử dụng có giá trị 3.800.000 đồng;
- 02 (hai) chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Omega có dây đeo bằng da đã qua sử dụng có tổng giá trị 22.666.667 đồng;
- Đối với 01 đồng hồ đeo tay hiệu Omega, 02 máy tính xách tay hiệu Dell và 01 máy tính xách tay hiệu Microsoft (tất cả đã qua sử dụng) không thu hồi được tài sản, không rõ đặc điểm và thông số kỹ thuật, không có hóa đơn, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G không có cơ sở để kết luận chính xác giá trị tài sản.
- Ngày 14/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả lại các tài sản trên cho anh Hồ Anh T2 (bị hại) theo quy định.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 49L1 – 124.63, số máy: G3D4E867763, số khung: RLCUG1010KY101328. Qua xác minh xe trên do chị Phạm Hồng V1 (sinh năm: 1988, Thường trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên chủ sở hữu. Chị Phạm Hồng V1 cho biết ngày 12/7/2023 sau khi ăn cơm tại nhà chị Phạm Hồng V1 thì Chu Văn B mượn xe của chị Phạm Hồng V1 để đi giải quyết công việc riêng. Chị Phạm Hồng V1 không biết việc Chu Văn B đi trộm cắp tài sản, khi Cơ quan Công an quận G liên hệ mời làm việc thì chị Phạm Hồng V1 mới biết sự việc. Ngày 24/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả tài sản trên cho chị Phạm Hồng V1.
- 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền do Chu Văn B lấy trộm và bán các tài sản trộm cắp có được.
- 01 (một) áo khoác dài tay màu nâu có mũ và có chữ F426 trước ngực.
- 01 (một) quần tây dài màu đen.
- 01 (một) nón kết màu xanh đen có chữ “Chanel”
- 01 (một) đôi dép màu đen có chữ Nike
- Đây là các tài sản cá nhân của Chu Văn B. Ngày 18/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả các tài sản trên cho Chu Văn B.
- 01 (một) USB chứa camera ghi nhận hình ảnh Chu Văn B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. (kèm theo hồ sơ vụ án).
* Vật chứng vụ án xảy ra tại quận P:
- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số ..../KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận P kết luận:
- 01 (một) máy tính xách tay hiệu ASUS X509J, core i5-1035G1, ram 4Gb, SSD 12Gb, card MX330 đã qua sử dụng trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), hiện chưa thu hồi được; Đây là các tài sản của chị Lê Đỗ Như B1 (Sinh năm 1995; Thường trú: Thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: 715 quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh);
- 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell latitude E5490, ram 6Gb, core i5, Bộ nhớ 128Gb đã qua sử dụng trị giá 8.900.000 đồng (tám triệu chín trăm nghìn đồng) hiện chưa thu hồi được; đây là tài sản của chị Đinh Lê Ngọc A (Sinh năm:1997; thường trú 9 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh);
- 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP Elitebook G8, core i7, ram 16Gb, SSD 512Gb đã qua sử dụng trị giá 19.500.000 đồng (mười chín triệu năm trăm nghìn đồng);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 10 plus màu trắng bạc dung tượng 128Gb đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng);
- 01 (một) máy tính bảng hiệu Ipad 2 màu bạc đã qua sử dụng trị giá 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng);
- Đây là các tài sản của công ty G1 do ông Nguyễn Ngọc T3 (Sinh năm 1987; thường trú B17.02 chung cư T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) làm giám đốc.
- 01 (một) máy ảnh hiệu Canon EOS R đã qua sử dụng trị giá 27.000.000₫ (hai mươi bảy triệu đồng);
- 01 (một) ngàm chuyển máy ảnh hiệu Canon R đã qua sử dụng trị giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng);
- 01 (một) Lens máy ảnh hiệu Canon EF 24-70 F2.8L đã qua sử dụng trị giá 10.000.000đ (mười triệu đồng);
- 01 (một) đèn flash máy ảnh hiệu Godox V860 đã qua sử dụng trị giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).
- Đây là các tài sản của anh Nguyễn Quốc T4 (Sinh năm 2003; thường trú: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Tổng tài sản bị can Chu Văn B đã chiếm đoạt trong 02 vụ án là 116.316.667 Đồng.
- 01 USB hiệu Kingston màu đỏ có lưu trữ dữ liệu hình ảnh Chu Văn B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. (theo hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: anh Hồ Anh T2 đã nhận lại tài sản gồm: 01 (một) chiếc điện thoại nokia 8800; 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Omega có dây đeo bằng da; 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Omega có dây đeo bằng da. Đối với số tài sản không thu hồi được anh Hồ Anh T2 yêu cầu Chu Văn B bồi thường số tiền 60.000.000 Đồng.
Chị Lê Đỗ Như B1 yêu cầu Chu Văn B bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 15.000.000 đồng.
Chị Đinh Lê Ngọc A yêu cầu Chu Văn B bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 8.900.000 đồng.
Anh Nguyễn Quốc T4 yêu cầu Chu Văn B bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 39.700.000 đồng.
Công ty G1 yêu cầu Chu Văn B bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 13.125.000 đồng.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng (Bị can Chu Văn B lấy tiền mặt) qua điều tra được biết đây là tiền của công Ty H1. Đại điện công ty H1 không yêu cầu Chu Văn B bồi thường
Tại bản cáo trạng số 315/CT-VKS ngày 24/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Chu Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Xử phạt bị cáo Chu Văn B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Buộc bị cáo bồi thường cho: Anh Hồ Anh T2 số tiền 58.000.000 đồng. Chị Lê Đỗ Như B1 số tiền 15.000.000 đồng. Chị Đinh Lê Ngọc A số tiền 8.900.000 đồng. Anh Nguyễn Quốc T4 số tiền 39.700.000 đồng. Ông Nguyễn Ngọc T3 số tiền 13.125.000 đồng .
- Trả lại cho anh Hồ Anh T2 số tiền 2.000.000 đồng.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi hình bị cáo trộm tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Chu Văn B đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Chu Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của các bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, bị cáo sẵn sàng phạm tội để có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Tài sản bị cáo trộm cắp qua định giá có tổng giá trị là số tiền 116.316.667 đồng, bị cáo có 5 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Mặt khác bị cáo liên tiếp thực hiện 02 vụ trộm, 01 vụ trên địa bàn quận G và 01 vụ trộm trên địa bàn quận P, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận P ra quyết định chuyển hồ sơ vụ trộm cắp trên địa bàn quận P cho cho cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G điều tra theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần được qui định tại điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự cho bị cáo. Do đó, cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản thu hồi một phần trả lại cho người bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà hôm nay, các bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện, các bị hại: Anh Hồ Anh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 58.000.000 đồng. Chị Lê Đỗ Như B1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15.000.000 đồng. Chị Đinh Lê Ngọc A yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 8.900.000 đồng. Anh Nguyễn Quốc T4 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 39.700.000 đồng. Đại diện Công ty G1 ông Nguyễn Ngọc T3 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 13.125.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận trên không trái pháp luật nghĩ nên ghi nhận.
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng Bị cáo lấy tiền mặt, qua điều tra được biết đây là tiền của công Ty H1. Đại điện công ty H1 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo, Đây là số tiền bị cáo bán Laptop của anh T2, nên Hội đồng xét xử trả lại số tiền trên cho anh T2
- Đối với 01 USB ghi hình bị cáo trộm tài sản là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.
- Đối với Vũ Đình L không biết laptop hiệu Dell mà Chu Văn B mang đến bán là do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý Vũ Đình L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” .
- Đối với Trần Văn H không biết việc Chu Văn B đi trộm cắp tài sản. Bị cáo Chu Văn B có cho Trần Văn H 01 đồng hồ hiệu Omega (là tài sản bị cáo Chu Văn B lấy trộm được) nhưng bị cáo không nói cho Trần Văn H biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Trần Văn H đã tự nguyện giao nộp lại đồng hồ trên cho Cơ quan Công an nên không có căn cứ xử lý hình sự Trần Văn H là phù hợp qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Chu Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Chu Văn B 04(bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính kể từ ngày 23/03/2023.
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Trả lại cho anh Hồ Anh T2 số tiền 2.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo bồi thường cho: Anh Hồ Anh T2 số tiền 58.000.000 đồng. Chị Lê Đỗ Như B1 số tiền 15.000.000 đồng. Chị Đinh Lê Ngọc A số tiền 8.900.000 đồng. Anh Nguyễn Quốc T4 số tiền 39.700.000 đồng. Ông Nguyễn Ngọc T3 số tiền 13.125.000 đồng .
Theo (phiếu nhập kho vật chứng số 107/PNK ngày 26/05/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra công An Quận G).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. và án phí dân sự sơ thẩm là 6.736.000 (sáu triệu bảy trăm ba mươi sáu ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Tường Linh |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
